Vai trò của Mỹ đối với Việt Nam Cộng hòa dưới góc độ chính trị (1954 – 1975)

Tóm Tắt Năm 1956, dưới sự giúp đỡ, chỉ đạo từ Mỹ, Ngô Đình Diệm đã thành lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) tại miền Nam Việt Nam để thực hiện chiến lược toàn của Mỹ. Sự tồn tại, hoạt động của chính quyền VNCH hoàn toàn lệ thuộc vào “thái độ” của Mỹ. Những cuộc đảo chính liên tiếp trong nội bộ chính quyền Sài Gòn cùng những lần “thay ngựa giữa dòng” của Mỹ tại Việt Nam là minh chứng rõ ràng cho vai trò quyết định của Mỹ dưới góc độ chính trị đối với miền Nam Việt Nam. Chính quyền VNCH ra đời xuất phát từ “nhu cầu” của Mỹ, phục vụ cho Mỹ. Do đó, chính quyền này không thể tồn tại và sụp đổ hoàn toàn vào ngày 30-4-1975

pdf6 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 139 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Vai trò của Mỹ đối với Việt Nam Cộng hòa dưới góc độ chính trị (1954 – 1975), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 5(30) - Thaùng 7/2015 59 Vai trò của Mỹ đối với Việt Nam Cộng hòa dưới góc độ chính trị (1954 – 1975) The American’s role to the republic of Vietnam in political perspective (1954 – 1975) TS. Lê Tùng Lâm Trường Đại học Sài Gòn Ph.D. Le Tung Lam Sai Gon University Tóm Tắt Năm 1956, dưới sự giúp đỡ, chỉ đạo từ Mỹ, Ngô Đình Diệm đã thành lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) tại miền Nam Việt Nam để thực hiện chiến lược toàn của Mỹ. Sự tồn tại, hoạt động của chính quyền VNCH hoàn toàn lệ thuộc vào “thái độ” của Mỹ. Những cuộc đảo chính liên tiếp trong nội bộ chính quyền Sài Gòn cùng những lần “thay ngựa giữa dòng” của Mỹ tại Việt Nam là minh chứng rõ ràng cho vai trò quyết định của Mỹ dưới góc độ chính trị đối với miền Nam Việt Nam. Chính quyền VNCH ra đời xuất phát từ “nhu cầu” của Mỹ, phục vụ cho Mỹ. Do đó, chính quyền này không thể tồn tại và sụp đổ hoàn toàn vào ngày 30-4-1975. Từ khóa: Việt Nam Cộng hòa, Mỹ, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu Abstract In 1956, with helps and guidances from the US, Ngo Dinh Diem was established by the Republic of Vietnam government in the South of Vietnam to implement the global strategy of the US. The existence and operation of the Republic of Vietnam government were dependent on the US’s attitude. The successive coups within the Saigon government and the times “instead of horses mid-stream” by the US in Vietnam were clear evidence for the US's role in the politics of the South Vietnam. The Republic of Vietnam was born from “needs” of the US and serving them. Therefore, Saigon government could not survive and completely collapsed on April 30, 1975. Keywords: Republic of Vietnam, US, Ngo Dinh Diem, Nguyen Van Thieu 1. Ngô Đình Diệm và sự lựa chọn của Mỹ (1954-1963) Sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, Mỹ thực hiện Chiến lược toàn cầu nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi thế giới. Đối với châu Á, Mỹ dành ưu tiên hàng đầu trong vấn đề Triều Tiên, Trung Quốc và Đông Dương. Năm 1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. G.Marshall cho rằng “có một mối quan hệ rất trực tiếp giữa chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Đông Dương. Triều Tiên và Đông Dương được Mỹ xem là “trận đánh sinh đôi” (twin battles) trong cùng một nỗ lực của Cộng sản quốc tế nhằm chiếm châu Á” [6, tr.98]. Ngày 21-8-1953, Tổng thống (TT) Eisenhower cho rằng “mất Việt Nam hoàn toàn sẽ ảnh hưởng tai hại tới các vị trí của Mỹ trong 60 các nước láng giềng với Việt Nam tựa như quân bài Domino xếp thành hàng có thể bị ngã hết quân này đến quân khác” [7, tr.1281]. Quan điểm này được người Mỹ gọi là Thuyết Domino (Domino Theodry) và nó đã chi phối giới cầm quyền Mỹ sau này. Mỹ lo ngại hậu quả dây chuyền của Thuyết Domino nếu không có sự can thiệp cần thiết vào Đông Nam Á.Vì vậy, Chính quyền Eisenhower phải tìm một giải pháp khác cho vị trí, vai trò của họ tại Việt Nam. Tổ chức “Những người bạn Mỹ của Việt Nam” (AFV) gồm các nhân vật nổi bật như Mansfield, Spellman và Joseph Kennedy đã thông qua Ngoại trưởng J.F.Dulles và giám đốc CIA A.Dulles đã đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền Thủ tướng và từng bước loại người Pháp khỏi Việt Nam. Đây là động thái quan trọng chuẩn bị cho quá trình can dự lâu dài vào Việt Nam của Mỹ. Ngày 20-8-1954, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ thông qua Nghị quyết NSC 5429/2 và xác định “những thắng lợi của cộng sản ở Đông Dương, mà đỉnh cao là Hiệp định Genève đã kéo theo những hậu quả nghiêm trọng gây tổn hại cho an ninh của Mỹ” [8, tr.771]. Do đó, Mỹ phải làm việc với “Thủ tướng” Ngô Đình Diệm và giúp đỡ bằng mọi giá cho chính quyền này. Đồng thời, Mỹ giúp Ngô Đình Diệm xây dựng một chính phủ “dân chủ” ở miền Nam Việt Nam để thực hiện mục tiêu chiến lược của họ. Nhận định về sự kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng Mỹ đã “biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, một căn cứ quân sự của Mỹ, để chia cắt lâu dài nước ta”[11, tr.276]. Để công khai ủng hộ, can thiệp vào miền Nam Việt Nam, tháng 12-1954, Mỹ đã thông qua Nghị quyết NSC 5429/5 và cho rằng “nếu được yêu cầu bởi một chính phủ bản địa hợp pháp, Mỹ sẽ xem xét một tình thế như vậy một cách nghiêm trọng đến mức ngoài việc mang đến mọi sự giúp đỡ công khai và bí mật tổng thống còn xem xét ngay lập tức khả năng yêu cầu Quốc hội có hành động thích đáng có thể, bao gồm việc sử dụng lực lượng quân sự Mỹ” [5, tr.205]. Rõ ràng, NSC 5429/5 đã trao cho Chính phủ Mỹ quyền tự do giúp đỡ về kinh tế, quân sự vào bất cứ nơi nào cần thiết để thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ. Trong đó, Việt Nam nhanh chóng trở thành “hòn đá tảng” trong chính sách của Mỹ. Dưới sự ủng hộ, giúp đỡ của Mỹ, ngày 4-3-1956, Ngô Đình Diệm đã tổ chức bầu cử Quốc hội riêng lẻ ở Nam Việt Nam. Ngày 30-4-1956, J.Dulles cho rằng “Mỹ phải giữ lấy miền Nam Việt Nam y như đã giữ Nam Triều Tiên và Đài Loan” [13, tr.15]. Triều Tiên và Đài Loan đang nhận được sự bảo trợ trực tiếp từ Mỹ để duy trì sự tồn tại của mình. Điều này đồng nghĩa từ nay, sự tồn vong của Nam Việt Nam cũng sẽ phải gắn liền với sự hậu thuẫn của Mỹ. Ngày 20-10-1956, Ngô Đình Diệm công bố Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. Như vậy, chính phủ Eisenhower đã “thành công” trong việc triển khai chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ tại miền Nam Việt Nam. Vĩ tuyến 17 chỉ là Giới tuyến quân sự tạm thời theo Hiệp định Genève nay lại trở thành ranh giới chia cắt hai miền Nam - Bắc Việt Nam. Tháng 1-1961, Tổng thống J.F. Kennedy thực hiện chiến lược “phản ứng linh hoạt” do M.Taylor đề xướng gồm ba loại hình chiến tranh: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, chiến tranh tổng lực. Miền Nam Việt Nam trở thành nơi lý tưởng để thử nghiệm chiến lược toàn cầu mới của Mỹ. TT Kennedy tán thành đề nghị của Sứ quán Mỹ trong kế hoạch chống nổi dậy, giúp VNCH tăng quân số từ 15 lên 17 vạn quân, giúp cải thiện chất lượng dân vệ ở nông thôn [15, tr.256]. Đồng thời, Mỹ cũng 61 tăng cường viện trợ kinh tế, lực lượng quân đội và cảnh sát của chính quyền Sài Gòn (CQSG), tăng số lượng cố vấn quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Ngày 11-5-1961, Kennedy đã thông qua Bị vong lục Hành động An ninh quốc gia NSAM 52 (National Security Action Memorandum 52), xác định nhiệm vụ của Mỹ là “giúp Diệm xây dựng lực lượng đặc biệt, chốt chặn biên giới, chống miền Bắc thâm nhập; tăng cường mở rộng, cải tiến trang bị và huấn luyện quân đội” [4, tr.181]. Sự kiện này đã đánh dấu quá trình can thiệp sâu hơn của Mỹ vào Việt Nam. Đối với Kennedy, giải pháp quan trọng là xây dựng CQSG vững mạnh để đảm nhận trách nhiệm chống lại quân giải phóng miền Nam. Ngày 8-2-1962, Mỹ thành lập Bộ chỉ huy viện trợ quân sự tại miền Nam (MACV) để điều hành chiến lược Chiến tranh đặc biệt tại Việt Nam. Với ưu thế về lực lượng quân đội, vũ khí hiện đại, Mỹ hi vọng sẽ giúp cho CQSG giành thắng lợi quyết định trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế không như Mỹ mong đợi. CQSG càng gặp nhiều khó khăn. Ngô Đình Diệm ngày càng tỏ ra chuyên chế, độc tài gia đình trị và bị nhân dân chống đối ngày càng mạnh mẽ. Vì vậy, Mỹ phải tìm giải pháp phù hợp với tình hình thực tế chiến trường Việt Nam. 2. Sự “thay ngựa giữa dòng” của Mỹ (1963-1965) Năm 1963, sự khủng hoảng của CQSG ngày càng trầm trọng. Mùa hè năm 1963, Ngô Đình Diệm đã công khai phát động cuộc tấn công vào Phật giáo, một tôn giáo của đại đa số người Việt Nam. Đêm 20 rạng 21-8-1963, Ngô Đình Diệm cho mở một loạt các cuộc tấn công vào các chùa trên khắp miền Nam Việt Nam, bắt 1.426 tăng ni, Phật tử và gây ra những thương vong lớn. Ngày 22-8-1963, The New York Times kịch liệt lên án chính phủ Diệm mất lòng dân, độc tài, đàn áp Phật giáo tàn bạo. Chỉ trích chính phủ Kennedy đã không sử dụng áp lực thích đáng với Diệm. Trước tình hình này, Mỹ đã tính đến giải pháp thay thế Ngô Đình Diệm bằng cuộc đảo chính của nhóm tướng lĩnh quân đội VNCH. Cuối tháng 8-1963, chính quyền Kennedy gửi cho các tướng lĩnh trong nhóm đảo chính gồm Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim và Trần Thiện Khiêm một mật điện rằng “Mỹ sẽ ủng hộ một cuộc đảo chính nếu cuộc đảo chính đó có cơ may thành công, nhưng không cho phép quân đội Mỹ tham dự vào cuộc đảo chính này” [9, tr.35-36]. Ngày 3-10-1963, Dương Văn Minh báo cho Conein biết cuộc đảo chính sắp xảy ra và yêu cầu Mỹ ủng hộ sau khi đã thành công. Ngày 28- 10, tướng Trần Văn Đôn bảo Conein nói với Đại sứ C.Lodge là các tướng không thay đổi kế hoạch của mình. Trưa ngày 1- 11-1963, cuộc đảo chính đã diễn ra. Nền đệ nhất cộng hòa đã kết thúc cùng với sự kết liễu của hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Cuộc đảo chính này đã nhận được sự chỉ đạo, hỗ trợ từ phía Mỹ. Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Hội đồng Quân nhân cách mạng (HĐQNCM) do Dương Văn Minh đứng đầu và tiến hành củng cố lại bộ máy chính quyền và những hoạt động quân sự tại Nam Việt Nam. Ngày 24-11-1963, TT Johnson đã triệu tập cuộc họp với các cố vấn của mình về Việt Nam và nhấn mạnh với các cố vấn của mình là ông “muốn giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh này” [14, tr.112- 113]. TT Johnson muốn nhìn thấy là một chiến thắng cần thiết của Mỹ tại Việt Nam nên phải tăng cường sự ủng hộ cho HĐQNCM. Ngày 26-11-1963, NSAM 273 được thông qua và khẳng định rằng, “nhiệm vụ trọng tâm của Mỹ tại miền Nam Việt Nam là hỗ trợ người dân và Chính phủ 62 của quốc gia ở đó để giành chiến thắng trong cuộc chiến chống lại các âm mưu của Cộng sản có sự chỉ đạo và hỗ trợ từ bên ngoài” [9, tr.638]. NSAM 273 là một minh chứng cho sự ủng hộ của Mỹ đối với VNCH trong cuộc chiến chống lại sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á. Dù có sự ủng hộ của Mỹ nhưng CQSG lại rơi vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng, HĐQNCM đều là những người từng làm việc cho Ngô Đình Diệm trước đây. Các tướng lãnh, chính trị gia và các lực lượng xã hội dân sự sau Ngô Đình Diệm đã phải đối mặt với những khó khăn và tỏ ra bất lực trước một nền dân chủ hỗn loạn. Thực trạng này cũng được phía Mỹ thừa nhận rằng “nhóm tướng lĩnh lên cầm quyền ở Nam Việt Nam sau vụ đảo chính cũng chẳng làm được gì nhiều để chặn đứng sự suy sụp này. Họ thiếu kinh nghiệm, không xây dựng được cương lĩnh và không giành được sự ủng hộ của các tổ chức chống Diệm trước đây. Giới lãnh đạo Mỹ kết luận rằng “ngay cả chính quyền mới Nam Việt Nam cũng không đủ sức kiểm soát tình hình”[1, tr.327]. Đến lúc này, Mỹ đã phần nào nhận thấy sự sai lầm khi để cho nhóm tướng lĩnh đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm. Do đó, Mỹ phải tìm một người khác thay thế để ổn định lại tình hình Nam Việt Nam. Dưới sự chỉ đạo của Mỹ - đứng đầu là Paul Harkins, tướng Nguyễn Khánh - Tư lệnh Quân đoàn I, cầm đầu cuộc đảo chính lần thứ hai nhằm lật đổ nhóm tướng lĩnh đã đảo chính Ngô Đình Diệm ba tháng trước đó. Sáng sớm ngày 30-1-1964, Nguyễn Khánh đã làm chủ Sài Gòn mà không tốn một phát súng nào. Nguyễn Khánh báo cho C.Lodge rằng “đảo chính đã hoàn toàn thành công”. Sau đó, Nguyễn Khánh tự xưng là Chủ tịch HĐQNCM, kiêm Tổng Tư lệnh quân đội và thiết lập một chế độ độc tài quân sự tại miền Nam Việt Nam. Đại sứ C.Lodge cũng cho rằng “chế độ cai trị độc tài có thể tốt hơn là một nhóm tướng lĩnh chia rẽ” và chẳng có gì làm cho Mỹ hài lòng hơn là “nhìn thấy một quốc trưởng phương Đông muốn đi nhanh và không ngần ngại đá đít những người khác” [3, tr.125]. Như vậy, Mỹ chuyển từ việc ủng hộ HĐQNCM sang ủng hộ chính quyền quân sự độc tài tại Việt Nam để có thể ổn định lại tình hình và thực hiện âm mưu của Mỹ. Rõ ràng, sự tồn tại của các CQSG đều phụ thuộc hoàn toàn vào thái độ của Mỹ. Sau khi lên cầm quyền, Nguyễn Khánh nhận được sự ủng hộ về kinh tế lẫn quân sự từ Mỹ. Ngày 8-3-1964, TT Johnson cử Mc.Namara sang Việt Nam và không quên dặn dò rằng “tôi (Johnson) muốn thấy hảng ngàn bức ảnh anh (McNamara) chụp chung với tướng Khánh, mỉm cười, vẫy tay để chỉ cho nhân dân ở đó (Nam Việt Nam) rằng đất nước này (Mỹ) hoàn toàn đứng đằng sau Khánh” [14, tr.122-123]. Hành động này của Nguyễn Khánh và McNamara đã chứng minh sự bất lực và lệ thuộc hoàn toàn vào Mỹ của chính phủ Nguyễn Khánh. Nó làm cho làn sóng chống chính phủ ngày càng dâng cao ở miền Nam. Từ đó, phong trào đấu tranh chống lại chính phủ độc tài Nguyễn Khánh bùng nổ mạnh mẽ hơn. Hàng ngàn người dân Sài Gòn xuống đường phản đối và hô to “đả đảo chế độ độc tài”. Đại sứ Maxwell Taylor đã báo cho Washington vào giữa tháng 8-1964 rằng “điều hay nhất có thể nói về chính quyền của Nguyễn Khánh là nó đã tồn tại được 6 tháng và khả năng tồn tại tiếp cho đến hết năm chỉ là 50/50”[3, tr.132]. Như vậy, Mỹ cũng không dám đảm bảo cho sự tồn tại lâu dài của chính quyền quân sự Nguyễn Khánh. Vì vậy, Mỹ phải tìm một giải pháp phù hợp cho Việt Nam. 3. Mỹ và “giải pháp Thiệu - Kỳ” (1965-1975) 63 Sự cai trị độc tài của Nguyễn Khánh, sự bất lực, chia rẻ trong nội bộ CQSG cùng sự lớn mạnh của Quân giải phóng miền Nam đã làm cho “giải pháp Nguyễn Khánh” đứng trước nguy cơ phá sản. Mỹ phải tính đến giải pháp “lật đổ Nguyễn Khánh”. Ngày 19-2-1965, nhóm tướng lĩnh do Lâm Văn Phát, Tôn Thất Đính và Phạm Ngọc Thảo lãnh đạo đã tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh. Tuy nhiên, nhóm đảo chính không nhận được sự ủng hộ của Mỹ và quân đội nên bị thất bại. Ngay trong ngày 19-2, M.Taylor đã đề nghị Nguyễn Cao Kỳ triệu tập một cuộc họp khẩn cấp của Hội đồng Quân lực tại Biên Hòa vào tối nay nếu có thể, nếu không, sớm nhất vào sáng ngày mai (20-2)[10, tr.329] để giải quyết tình hình rối ren trong nội bộ CQSG. Ngày 20-2-1965, Hội đồng Quân lực họp và quyết định cử Trần Văn Minh giữ chức Tổng tư lệnh thay Nguyễn Khánh. Ngày 22-2-1965, Nguyễn Khánh được bổ nhiệm làm Đại sứ lưu động và rời khỏi Việt Nam, thực chất là bị trục xuất khỏi Việt Nam. Sau đó, hàng loạt vụ đảo chính khác, các chính quyền dân sự do Trần Văn Hương rồi Phan Huy Quát đứng đầu lần lượt được thành lập rồi sụp đổ. Nhưng tình hình vẫn không ổn định được. Tháng 5-1965, một cuộc khủng hoảng mới đã nổ ra, Phan Huy Quát xin từ chức. Dưới sự đồng ý của Mỹ, ngày 11-6-1965, nhóm các tướng lĩnh họp tại Dinh Độc lập, chấp nhận sự từ chức của Phan Huy Quát, cử Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ nắm quyền điều hành CQSG. Như vậy, thí nghiệm về các giải pháp chính phủ dân sự của Mỹ tại miền Nam Việt Nam đã bị thất bại. Mỹ phải quay trở lại dựng lên một chính phủ quân sự để phục vụ cho chiến lược chiến tranh xâm lược tại miền Nam Việt Nam. Ngày 14-6-1965, Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia được thành lập do Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch (tương đương Quốc trưởng). Ngày 19-6-1965, Ủy ban Hành pháp Trung ương (tức Chính phủ) được thành lập do Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch. Tuy nhiên, CQSG vẫn không thể thoát tình hình ngày càng khủng hoảng. Ngày 30-11- 1965, McNamara đã gởi TT Johnson một Bị vong lục rằng “chính phủ của các tướng lĩnh của Kỳ vẫn tồn tại nhưng không nhận được sự ủng hộ rộng rãi hoặc có được những hành động có tính chất táo bạo. Công tác bình định đang dẫm chân tại chỗ nghiêm trọng” [12, tr.488]. Rõ ràng, sự bất ổn và kém hiệu quả của CQSG làm cho người Mỹ lo lắng. Ngày 8-2-1966, Mỹ buộc Nguyễn Cao Kỳ phải cải cách chính phủ khi TT Johnson không thỏa mãn với những lời hứa hoặc bằng “những từ ngữ nghe rất kêu” mà phải “có những kết quả cụ thể” [3, tr.174]. Ngay khi về Sài Gòn, Kỳ đã vấp phải một thách thức nội bộ rất quyết liệt. Tháng 3-1966, cuộc “khủng hoảng miền Trung” nổ ra đòi Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ từ chức và nhường chỗ cho một chính phủ dân sự. Cuộc “khủng hoảng miền Trung” bộc lộ rõ những yếu kém của CQSG và thế yếu của Mỹ ở Việt Nam. Theo sự sắp xếp của Mỹ, ngày 15-5-1966, cuộc “khủng hoảng miền Trung” đã được dập tắt. Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ trọng vọng như một nhà lãnh đạo quân sự có năng lực và Taylor coi ông ta như một con người đầy “tự tin và sáng suốt” [3, tr.151]. Tháng 3-1967, trong lúc gặp Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ tại Guam, TT Johnson nói rằng “sinh nhật tôi vào cuối tháng 8. Món quà lớn nhất mà các bạn có thể tặng tôi là một cuộc bầu cử toàn quốc” [2, tr.475]. Do đó, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đã xúc tiến cuộc bầu cử vào tháng 9-1967. Sau thắng lợi của cuộc bầu cử đầy gian lận ngày 3-9-1967, Nguyễn Văn Thiệu 64 đắc cử Tổng thống, Nguyễn Cao Kỳ là Phó tổng thống VNCH. Nền Đệ Nhị cộng hòa được chính thức thành lập tại miền Nam Việt Nam ngày 1-11-1967. Người Mỹ mong đợi có một chính phủ VNCH ổn định tại miền Nam Việt Nam để có thể tiếp tục thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược. Từ đây, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ tiếp thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ cho đến khi sụp đổ hoàn toàn vào ngày 30-4-1975. 4. Kết luận Từ năm 1956-1975, sự tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam Việt cùng sự xâm lược của Mỹ đã gây ra cuộc chiến tranh tàn khốc cho dân tộc Việt Nam. Trong 20 năm, chính quyền VNCH liên tiếp có sự xáo động, thay đổi liên tục trong giới cầm quyền của họ. Những cuộc đảo chính liên tiếp diễn ra và đều có “bàn tay” chỉ đạo từ Mỹ. Rõ ràng, chính quyền VNCH ra đời không phải xuất phát từ nhu cầu của đất nước, của dân tộc mà từ “nhu cầu” của Mỹ. VNCH chỉ là “quân bài” phục vụ cho mục đích chính trị của Mỹ. Do đó, VNCH không thể tồn tại và sụp đổ hoàn toàn vào ngày 30-4-1975. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã đánh bại những thí nghiệm chiến lược chiến tranh kiểu mới của Mỹ tại miền Nam Việt Nam và làm sụp đổ hoàn toàn VNCH - “chính quyền của Mỹ” ở miền Nam Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bogaturo Aleksey Demofenovich, Averkov Viktor Viktorovich (2013), Lịch sử quan hệ quốc tế, Đặng Quang Chung, Lê Đức Mẫn dịch, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội. 2. Frances Fitzgerald (2004), Lửa trong lòng Hồ, NXB CAND, HN. 3. George Herring (1996), America`s Longest War: The United States and Vietnam, 1950- 1975, Third Edition, McGraw-Hill, Inc. 4. Lê Mậu Hãn (cb, 2003), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập III, NXB Giáo dục, Hà Nội 5. Lê Phụng Hoàng (2008), Lịch sử Quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối chiến tranh lạnh (1945 – 1991), Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 6. Phan Văn Hoàng (2004), Việt Nam trong chính sách của Mỹ từ 1940 đến 1956, LATS, Trường ĐHSP TPHCM. 7. John P. Glennon (General Editor, 1982), Foreign Relations of the United States, 1952–1954. Indochina (in two parts): Volume XIII, Part 1, United States Government Printing Office, Washington. 8. John P.Glennon (General Editor, 1984), Foreign Relations of the United States, 1952–1954. East Asia and the Pacific (in two parts): Volume XII, Part 1, United States Government Printing Office, Washington. 9. John P.Glennon (General Editor, 1991), Foreign Relations of The United States, 1961–1963, Volume IV, Vietnam, August– December 1963, United States Government Printing Office, Washington. 10. John P.Glennon (General Editor, 1992), Foreign Relations of the United States, 1964–1968, Volume II, Vietnam 1964, United States Government Printing Office, Washington. 11. Hồ Chí Minh (1976), Vì độc lập tự do, vì Chủ nghĩa xã hội, NXB Sự thật, Hà Nội. 12. Neil Sheehan, H.Smith, E.W.Kenworthy, and F.Butterfield (1971), The Pentagon Papers as Published by the New York Times. New York: Bantam Books. 13. Đặng Phong (1991), 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam, Viện nghiên cứu thị trường - giá cả, Hà Nội. 14. Robert S.Mc Namara (1995), Nhìn lại quá khứ, Tấm thảm kịch và những bài học về Việt