Bản chất và các giai đoạn hình thành kĩ năng thích ứng nghề cho sinh viên các trường Cao đẳng kĩ thuật

Tóm tắt. Trong những năm gần đây, tình trạng nhiều sinh viên ra trường không có việc làm hoặc có việc làm nhưng làm không đúng với ngành nghề mình được đào tạo.Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo. Có rất nhiều giải pháp đã được đưa ra, nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này. Trong đó, có ưu tiên đến công tác Hướng nghiệp cho học sinh, sinh viên nhằm giúp học sinh, sinh viên trong việc lựa chọn nghề nghiệp và nhanh chóng thích ứng trong quá trình học tập, rèn luyện để phát triển các phẩm chất và năng lực nghề nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu về “thích ứng nghề” cho sinh viên kĩ thuật còn khá mới mẻ, chưa được nhiều người quan tâm. Bài viết này sẽ đi sâu phân tích bản chất và các giai đoạn hình thành kĩ năng thích ứng nghề cho sinh viên các trường Cao đẳng kĩ thuật.

pdf8 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 169 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bản chất và các giai đoạn hình thành kĩ năng thích ứng nghề cho sinh viên các trường Cao đẳng kĩ thuật, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE DOI: 10.18173/2354-1075.2015-0057 Educational Sci., 2015, Vol. 60, No. 6, pp. 100-107 This paper is available online at BẢN CHẤT VÀ CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH KĨ NĂNG THÍCH ỨNG NGHỀ CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG KĨ THUẬT Nguyễn Thành Long Khoa Cơ - Điện, Trường trung cấp xây dựng số 4, Vĩnh Phúc Tóm tắt. Trong những năm gần đây, tình trạng nhiều sinh viên ra trường không có việc làm hoặc có việc làm nhưng làm không đúng với ngành nghề mình được đào tạo...Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo. Có rất nhiều giải pháp đã được đưa ra, nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này. Trong đó, có ưu tiên đến công tác Hướng nghiệp cho học sinh, sinh viên nhằm giúp học sinh, sinh viên trong việc lựa chọn nghề nghiệp và nhanh chóng thích ứng trong quá trình học tập, rèn luyện để phát triển các phẩm chất và năng lực nghề nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu về “thích ứng nghề” cho sinh viên kĩ thuật còn khá mới mẻ, chưa được nhiều người quan tâm. Bài viết này sẽ đi sâu phân tích bản chất và các giai đoạn hình thành kĩ năng thích ứng nghề cho sinh viên các trường Cao đẳng kĩ thuật. Từ khóa: Thích ứng, kĩ năng thích ứng, kĩ năng thích ứng nghề cho sinh viên kĩ thuật. 1. Mở đầu Xã hội càng phát triển càng đòi hỏi con người có khả năng thích ứng để theo kịp với sự phát triển đó. Trong thế kỉ XX, những nghiên cứu khoa học về vấn đề tâm lí học thích ứng được đánh dấu bởi các nhà khoa học giáo dục hàng đầu thế giới như: Côvaliốp A. G. (1971) [1], Climôv E. A. (1971) [2], Golomstooc A. E (1979) [3],... Ở Việt Nam cũng có nhiều nhà khoa học giáo dục quan tâm đến vấn đề này, cụ thể như: Bùi Ngọc Dung (1981) [4], Vũ Thị Nho (1996) [5], Nguyễn Văn Hộ (2000) [6]. . . Thông qua quá trình tìm hiểu, phân tích, đánh giá, chúng tôi nhận thấy rằng “thích ứng” có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục và đào tạo, nó giúp cho con người nhanh chóng hoàn thiện nhân cách. . . Tuy nhiên tùy thuộc vào từng giai đoạn, từng thời điểm, từng cấp học, từng bậc học mà mức độ ảnh hưởng của nó khác nhau. Ở đây, tác giả chỉ đi sâu phân tích để làm sáng tỏ vấn đề về khái niệm, các giai đoạn hình thành kĩ năng thích ứng nghề cho đối tượng là sinh viên kĩ thuật mà cụ thể là sinh viên các trường cao đẳng kĩ thuật. 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Thích ứng Theo Nguyễn Văn Hộ (2006), Hoạt động Giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong trường Trung học phổ thông, NXB Giáo dục Việt Nam. Giáo sư đã chỉ rõ: Để thích ứng mối cá Ngày nhận bài: 9/1/2015. Ngày nhận đăng: 21/5/2015. Liên hệ: Nguyễn Thành Long, e-mail: kdtnxd4long@gmail.com 100 Bản chất và các giai đoạn hình thành kĩ năng thích ứng nghề cho sinh viên... nhân cần phải tự hiểu mình (mình là ai?) thông qua nhưng đặc trưng mà bản thân coi đó là một giá trị được thừa nhận. Đồng thời để hiểu kĩ mình hơn, chính xác hơn, cần thiết phải có sự tồn tại của một hoặc nhiều cá thể khác. Do đó, theo Giáo sư “thích ứng” được coi là quá trình thấu hiểu mình bằng người khác và thông hiểu kẻ khác bằng chính mình. Còn trong xã hội, sự thích ứng của mỗi cá nhân được tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, theo chúng tôi tất cả các hình thức thể hiện của “thích ứng” đều có sự tham gia của ý thức. Ý thức trở thành nhân tố thường trực tạo nên sự thành công hay thất bại của quá trình thích ứng. Vì vậy, theo chúng tôi hiểu: “thích ứng” là hoạt động có định hướng (ứng đáp, phản ứng, thich nghi, tương thích và sự hòa nhập. . . ), là một quá trình tự giác luôn mang tính tích cực chủ động của cá nhân trước nhưng yêu cầu biến đổi của môi trường xã hội. “Thích ứng” là khái niệm được dùng rộng rãi trong cả khoa học và đời sống xã hội, biến thể của nó có thể là: ứng đáp, phản ứng, thich nghi, tương thích và sự hòa nhập. . . ; Tuy nhiên, dưới cách nhìn nhận của chúng tôi, các biến thể trên thường được dùng với ý nghĩa sinh học, còn "thích ứng" được dùng trong hoạt động tâm lí - xã hội. Có thể coi "thích ứng" là quá trình biến đổi đời sống tâm lí và hệ thống hành vi cá nhân để đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của những điều kiện sống mới và hoạt động mới. Nhờ có sự "thích ứng" mà chủ thể hình thành những cấu tạo tâm lí mới, thậm chí trong những điều kiện nhất định có thể cải biến lại chính môi trường sống. Như vậy, sự "thích ứng" được bắt đầu ngay từ khi là một đứa trẻ mới chào đời, làm quen với môi trường mới, với điều kiện sống mới, hoạt động mới và kết thúc ở sự hình thành được hệ thống ứng xử tương ứng với vị thế và vai trò xã hội của bản thân, giúp các cho cá nhân hòa nhập vào xã hội. 2.2. Nghề và nghề nghiệp Theo từ điển tiếng Việt, “nghề” được hiểu là "công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội" [7]. Có thể hiểu: “nghề” là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kĩ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Nghề nghiệp (career, profession, de carrière, Kapbepa,...) theo nghĩa Latinh có nghĩa là công việc chuyên môn được định hình một cách hệ thống, là dạng đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó để thực hiện hoạt động cơ bản, giúp con người tồn tại và phát triển [8]. Tác giả Climôv E. A. định nghĩa: “Nghề nghiệp” là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho con người có khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển [8]. Từ một số khái niệm nêu trên chúng ta có thể hiểu về “nghề nghiệp” như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân), trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân. Như vậy, sự thay đổi của xã hội là yếu tố quyết định đến sự thay đổi của nghề nghiệp hay nói cách khác nghề nghiệp phải thay đổi để thích ứng với sự thay đổi của xã hội. Theo quan điểm của chúng tôi thì bất kì nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó hệ thống giá trị: kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ và hiệu quả do nghề mạng lại. Những giá trị này có thể được hình thành theo con đường tự phát (do tích lũy kinh nghiệm trong quá trình sống với cộng đồng mà có) hoặc theo con đường tự giác (do đào tạo tại các cở sở trường lớp dài hạn hay ngắn hạn). Thực tế cho thấy trong bất kì hoạt động nghề nghiệp nào, mỗi cá nhân đều phải tiêu tốn một 101 Nguyễn Thành Long lượng vật chất (sức lực) và tinh thần (trí tuệ) nhất định. Cá nhân sống bằng nghề nào thì lượng tiêu hao sức lực và trí tuệ cho dạng lao động đó là lớn nhất. Chính vì thế, nghề được coi như là một đối tượng của đời sống cá nhân và gắn bó với cả cuộc đời con người, nhiều khi còn truyền từ đời này qua đời khác [9]. Để phân biệt rạch ròi giữa khái niệm “nghề” và khái niệm “nghề nghiệp”. Chúng tôi cho rằng, khái niệm "nghề" và "nghề nghiệp" cũng có những khía cạnh khác nhau, “nghề” luôn luôn là cơ sở giúp cho con người có “nghiệp” (việc làm) để từ đó tạo ra những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu cá nhân cũng như nhu cầu xã hội. Còn nếu như người nào chỉ có nghề mà không có nghiệp, người đó coi là người thất nghiệp (Ví dụ sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa tìm được việc làm). Tuy nhiên, chúng ta không nên tách bạch nội hàm hai khái niệm đó, bởi trong chúng có sự "chứa đựng" lẫn nhau, trong nghề có ẩn chứa "nghiệp", và đã có "nghiệp" nhất định phải có "nghề", cho nên người ta thường dùng thuật ngữ "nghề nghiệp" bởi sự song hành giữa chúng. Nói chung xét trên quan điểm về giáo dục và đào tạo, “nghề nghiệp” có thể hiểu là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những kiến thức kĩ năng, kĩ xảo chuyên môn nhất định, có phẩm chất đạo đức phù hợp với yêu cầu của dạng lao động tương ứng.[10]. Ở phương diện thích ứng chúng tôi không phân biệt hai khái niệm này, bởi sự thích ứng diễn ra trong cả quá trình học nghề và hành nghề, chúng có mối quan hệ đan xen lẫn nhau, cả “học nghề” lẫn “hành nghề” đều diễn ra quá trình tích lũy, vận dụng những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo (trong “học nghề” có “hành nghề” và khi “hành nghề vẫn phải “học nghề”, cho nên chúng tôi nhận thấy hai khái niệm thích ứng nghề và thích ứng nghề nghiệp đều có ý nghĩa như nhau, và chúng tôi đồng nhất gọi là “thích ứng nghề”. 2.3. Thích ứng nghề Thích ứng nghề là một dạng thích ứng có quan hệ khá mật thiết với các dạng thích ứng khác, thích ứng nghề của một người lao động là quá trình tiếp xúc của họ với các hoạt động nghề nghiệp, với những điều kiện học tập và lao động, với một tập thể [7]. Tác giả K.K.Platônôv đã chỉ ra rằng: “thích ứng nghề” bao gồm một số kĩ năng thu được khi làm việc trong một tập thể và trong các mối quan hệ nhân cách của những tập thể nghề nghiệp khác nhau [8]. Theo các quan niệm nêu trên, có thể hiểu “thích ứng nghề” là quá trình đưa con người vào lao động nghề nghiệp, là thời kì chuyển tiếp từ học sinh, sinh viên sang vị trí người công dân có tay nghề. Sự chuyển biến này diễn ra ở các mặt phát triển của cá nhân (sức khỏe, tâm lí, tay nghề, kinh nghiệm sống, tính cách, đạo đức..). Theo chúng tôi thích ứng nghề của một sinh viên kĩ thuật là quá trình vận dụng các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo chuyên môn nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp đã được tích lũy thông qua chương trình đào tạo chuyên biệt và xã hội. Kết quả sự thích ứng mà họ đạt tới sẽ được biểu đạt thông qua mức độ tương ứng giữa yêu cầu nghề nghiệp với những phẩm chất cá nhân trong hoạt động nghề nghiệp đó. 2.4. Kĩ năng thích ứng nghề Qua nghiên cứu, chúng tôi đi đến kết luận "KNTƯ nghề" là một dạng kĩ năng đặc biệt, bởi các lí do sau: - Thứ nhất, xét về bản chất, KNTƯ nghề vừa có tính chất của một KN chung, vừa mang 102 Bản chất và các giai đoạn hình thành kĩ năng thích ứng nghề cho sinh viên... những đặc điểm của một KN chuyên biệt. Nó bao hàm cả những thuộc tính chung về trí tuệ và nhân cách, đồng thời phải có những yếu tố tâm lí phù hợp với sự thay đổi của một hoạt động chuyên biệt nhất định. - Thứ hai, KNTƯ nghề có mối quan hệ chặt chẽ với KN nghề. Do đó khi xem xét KNTƯ nghề ta nên phân tích nó dựa vào những yêu cầu cơ bản về phẩm chất của KN nghề, cần nhìn nhận nó như một KN đặc biệt vừa mang tính phổ biến vừa mang tính độc đáo. Qua nghiên cứu, chúng tôi xác định cấu trúc của “KN nghề” gồm các thành tố cơ bản: - Vận dụng kiến thức. - Vận dụng kĩ năng. - Thái độ với nghề. - Mức độ (kết quả) thực hiện các hành động nghề (hành nghề). Bên cạnh đó, chúng tôi xác định cấu trúc của “KNTƯ nghề” bao gồm các thành tố: - Tri thức để thích ứng (đáp ứng yêu cầu) môi trường nghề. - Mức độ lĩnh hội tri thức trong quá trình học. - Mức độ vận dụng các tri thức nghề để thích ứng, tồn tại và phát triển trong thế giới việc làm. - Sự linh hoạt biểu hiện các phẩm chất trong thế giới việc làm. Qua phân tích, chúng tôi cho rằng KN nghề nghiệp và KNTƯ nghề có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau, xét ở góc độ nào đó thì KNTƯ nghề cũng được coi như một KN nghề nghiệp, nhưng nó đặc biệt ở chỗ nó phải được biểu hiện cụ thể trong một lĩnh vực nhất định nào đó của KN nghề nghiệp. (Không có sự thích ứng chung chung mà phải có sự thích ứng trong lĩnh vực cụ thể của hoạt động nghề, ví dụ thích ứng với hoạt động thực hành, trong đó liên quan chặt chẽ với việc rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo nghề của người kĩ sư,...), và nó không những biểu hiện ở khả năng thay đổi và rèn luyện các KN nghề mà còn biểu hiện ở khả năng thay đổi và rèn luyện các phẩm chất nghề. Dựa trên các khái niệm, quan điểm của các nhà khoa học về thích ứng nghề, kĩ năng nghề. . . , chúng tôi đi đến kết luận chung về kĩ năng thích ứng nghề như sau: KNTƯ nghề là khả năng cá nhân thích ứng trong cách tiếp cận tri thức nghề và vận dụng tri thức nghề trong quá quá trình rèn luyện, thay đổi, cải tạo và sáng tạo bản thân và môi trường, nhằm đáp ứng được những yêu cầu trong sự biến đổi của môi trường hoạt động. Như vậy KNTƯ nghề được thể hiện: - Mức độ ổn định và hiệu quả trong việc tích lũy các tri thức, kĩ năng trong hoạt động học tập và lao động nghề nghiệp. - Mức độ ổn định và hiệu quả trong việc vận dụng các tri thức, kĩ năng vào hoạt động nghề nghiệp. - Thể hiện ở khả năng vận dụng kiến thức kĩ năng để cải tạo, sáng tạo bản thân và môi trường cho phù hợp với yêu cầu của hoạt động học tập và rèn luyện nghề, đáp ứng những yêu cầu về phẩm chất và KN của nghề. - KNTƯ nghề cho phép cá nhân thích nghi và đạt kết quả tốt trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau của hoạt động nghề. 103 Nguyễn Thành Long 2.5. Các giai đoạn hình thành kĩ năng thích ứng nghề cho sinh viên các trường CĐKT 2.5.1. Thích ứng với môi trường đào tạo (thích ứng ban đầu) Đây là giai đoạn ban đầu sau khi học sinh hoàn thành chương trình học phổ thông và yêu cầu mỗi học sinh nên chọn cho mình hướng đi, hướng phấn đấu, rèn luyện. Vì vậy, sự cần thiết của học sinh là phải thực hiện hành động của bản thân theo một hướng đã được xác định, đây là cơ sở tạo tiền đề hình thành thích ứng ban đầu đối với sinh viên. Thông qua kết quả khảo sát thực tế về công tác hướng nghiệp cho học sinh ở trường phổ thông: TT Các biểu hiện Các mức độ 1 2 3 4 5 1 Có kiến thức, hiểu biết thực tế về môi trường nghề và điều kiện tiếp cận nghề nghiệp ở phổ thông 48,8% 17,7% 14,4% 13,5% 5,7% 2 Phát triển tâm lí nghề nghiệp cho học sinh phổ thông 9,7% 26,2% 48,5% 8,0% 7,7% 3 Hiểu biết thực tế về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học và giáo dục ở các trường chuyên nghiệp. 47,1% 26,9% 17,1% 7,1% 1,8% 4 Nắm bắt kịp thời những yêu cầu, đòi hỏi giáo dục ở trường chuyên nghiệp 26,9% 46,2% 18,0% 7,1% 1,8% 5 Vận dụng hiểu biết và kĩ năng để lựa chọn cho mình hướng đi đúng phù hợp với năng lực hiện có của cá nhân. 26,9% 46,2% 18,0% 7,1% 1,8% Kết quả của việc hình thành KNTƯ nghề cho học sinh phổ thông cuối cùng sẽ được thể hiện và đánh giá khi các em tham gia vào hoạt động lựa chọn cho mình một hướng đi, một môi trường nghề phù với năng lực hiện có của bản thân. Do vậy, việc trang bị cho các em những yếu tố tâm lí và kĩ năng để hình thành và phát triển KNTƯ thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục ở trường phổ thông là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Trong khi kết quả điều tra cho thấy, kĩ năng này ở học sinh rất hạn chế. Qua đó cho thấy, học sinh cần được cọ sát và tham gia nhiều hơn, tìm hiểu nhiều hơn, thâm nhập tích cực hơn vào các hoạt động hướng nghiệp ở trường phổ thông thì mới có thể tạo cơ hội cho các em thích ứng nhanh với hoạt động nghề nghiệp ở trường chuyên nghiệp sau này. Ở giai đoạn này, mỗi sinh viên tự đánh giá lại quyết định vào trường chuyên nghiệp của mình đã lựa chọn có đúng không, từ đó mà hình thành thái độ ban đầu đối với nghề thông qua các hoạt động học tập, sinh hoạt của trường chuyên nghiệp. Cũng ở giai đoạn này yêu cầu sinh viên phải tự tìm cho mình sức hấp dẫn của nghề nghiệp, thử so sánh giữa ước mơ cũ và hiện thực để xây dựng và củng cố niềm tin đối với sự lựa chọn nghề nghiệp. Do tính chất mới mẻ của sự phát triển tâm lí, sức hấp dẫn của nghề nghiệp phụ thuộc không nhỏ vào những cư xử ban đầu của cơ sở đào tạo, hoặc gây ra cho các em những ấn tượng tốt đẹp, giúp các em có được một thích ứng thuận chiều theo môi trường mới, hoặc là tạo ra sự hẫng hụt, suy giảm niềm tin và hi vọng trong môi trường mới. 104 Bản chất và các giai đoạn hình thành kĩ năng thích ứng nghề cho sinh viên... 2.5.2. Nắm vững hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và thái độ về nghề nghiệp Giai đoạn này được thực hiện trong quá trình sinh viên tiếp xúc trực tiếp với các môn khoa học chuyên ngành có liên quan đến lĩnh vực nghề nghiệp tương lai. Nó diễn ra lâu dài, theo từng năm học. Giai đoạn này có vai trò to lớn, ảnh hưởng tới chất lượng thích ứng của mỗi sinh viên đối với nghề. Sự phù hợp nhiều hay ít của nghề trong giai đoạn này được biểu thị thông qua kết quả học tập rèn luyện, mức độ hình thành kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo. Chính kết quả học tập này tác động trực tiếp đến lí tưởng nghề nghiệp, lòng yêu nghề của mỗi sinh viên và là cở sở đánh giá mức độ thích ứng nghề của sinh viên. Ví dụ: Theo kết quả điều tra trên các trường cao đẳng kĩ thuật vùng trung du phía bắc về sự thích ứng kĩ năng nghề với hoạt động dạy học. Cụ thể như sau: TT Các biểu hiện Các mức độ 1 2 3 4 5 1 Nắm vững kiến thức kiến thức, kĩ năng, tích cực tìm hiểu các môn học chung, các môn chuyên ngành. 4% 14% 63% 11% 8% 2 Thường xuyên rèn luyện kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo thông qua hoạt động thực hành. 1% 13% 70% 10% 6% 3 Tích cực rèn luyện khả năng ngoại ngữ chuyên ngành để thông dịch các trang thiết bị mới. 1% 17% 62% 11% 9% 4 Làm quen, tìm hiểu và vận dụng kiến thức, kĩ năng vào sản xuất thực tế. 1% 18% 65% 13% 2% 5 Có khả năng tự kiểm tra, đánh giá năng lực bản thân. 1% 17% 70% 9% 3% Qua kết quả khả sát chúng ta nhận thấy việc nắm vững hệ thống kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo tập trung mức độ 2, tức kĩ năng thích ứng nghề của sinh viên vẫn còn nhiều hạn chế. Chính vì thế, ở giai đoạn này chúng ta cần đưa ra các giải pháp để phát triển kĩ năng thích ứng nghề cho sinh viên, cần xây dựng mô hình phát triển kĩ năng thích ứng nghề cho sinh viên. 2.5.3. Hình thành tay nghề trong môi trường sản xuất Qua phản ánh thực tế của các doanh nghiệp về việc sử dụng lao động đã qua đào tào thông qua mạng internet. [11], cho thấy 70% nhân lực công nghệ thông tin không đáp ứng được yêu cầu của Doanh nghiệp. [12], nội dung bài viết chỉ rõ: “Dư thừa trình độ lao động cử nhân là thực tế, tuy nhiên nhiều doanh nghiệp vẫn không tuyển được. Nguyên do là có đến 70% sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn, kĩ năng, ngoại ngữ. . . ”. Vì vậy, trong đào tạo hiện nay việc hình thành tay nghề cho sinh viên trong môi trường sản xuất là vô cùng quan trọng, nó giúp phát triển KNTƯ nghề cho sinh viên. 105 Nguyễn Thành Long Ở giai đoạn này kĩ năng thích ứng nghề được hình thành thông qua việc thực tập kết hợp sản xuất tại cơ sở đào tạo, thực tập tốt nghiệp tại các cơ sở sản xuất, tại doanh nghiệp. . . Đây là giai đoạn thử thách thực sự trong môi trường nghề, được tiếp xúc trực tiếp với trang thiết bị máy móc tại doanh nghiệp, được làm trực tiếp tạo ra các sản phẩm, phải tuân thủ giờ giấc, nghỉ ngơi, hội họp. . . thông qua các mối quan hệ qua lại giữa cấp trên với cấp dưới, giữa người học với cán bộ, những quyền lợi vật chất được hưởng thụ và đóng góp, sự căng thẳng và mệt nhọc, niềm vui và nỗi buồn, thành công và thất bại trong quá trình vận dụng hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp đã tiếp thu ở học đường vào hoạt động thực tiễn, làm cho quá trình thích ứng nghề trở nên lí thú nhưng cũng không kém phần phức tạp, có thể gây ra những biến đổi rõ nét đối với lí tưởng nghề nghiệp. Chính ở giai đoạn này chúng ta đang gắn trách nhiệm của sinh viên với nghề nghiệp, hình thành kĩ năng cốt lõi trong môi trường nghề nghiệp, giúp sinh viên thích ứng với môi trường hành nghề sau khi tốt nghiệp. Cả ba giai đoạn hình thành thích kĩ năng thích ứng nghề như chúng ta vừa xem xét có mối quan hệ mật thiết với nhau, kế tiếp nhau tạo thành một quá trình thích ứng hoàn chỉnh. Nếu như ở học sinh phổ thông các lớp cuối cấp, thích ứng nghề chỉ tham gia trên cơ sở việc hình thành cho học sinh ý thức lựa chọn nghề và một vài kĩ năng của một số nghề phổ biến, thông dụng, thì ở các trường CĐKT vấn đề rèn luyện tay nghề mà sinh viên tiếp thu được trong quá trình học tập tại trường phải được gìn giữ và vận dụng một cách thành thạo vào lĩnh vực nghề nghiệp đã được đào tạo. Tổng số những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và hệ thống những kiến thức được thiết lập trong thời gian học tập tại tường sẽ tạo thành cơ sở của tay nghề trong chuyên môn, giúp sinh viên có thể thích ứng nhanh chóng với yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra, đạt tới giá trị khách quan của nghề đòi hỏi. 3. Kết luận Trên đây chúng tôi đã đi sâu phân tích, trao đổi một số vấn đề về lí luận liên quan tới các khái niệm nh
Tài liệu liên quan