Cuộc đấu tranh của hai phe chủ chiến - Chủ hòa và những tác động đối với cuộc đấu tranh chống Pháp xâm lược (1858 – 1888)

1. Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, nhà Nguyễn là triều đại ở vị trí rất đặc biệt, đó là điểm giao thời từ Việt Nam độc lập sang nước Việt Nam nô lệ. Nhà Nguyễn tồn tại 143 năm (1802 – 1945) trong thời kì đất nước có nhiều biến động, là nhà nước phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Hiếm có triều đại nào thu hút nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu lịch sử như triều Nguyễn. Một nguyên nhân quan trọng vì đây là thời kì gần với lịch sử hiện đại Việt Nam, còn lưu giữ được nhiều những tư liệu thành văn nhưng phần khác là ở triều Nguyễn luôn tồn tại hai mảng sáng tối đan xen với nhau, dễ gây nên sự tranh luận của các nhà khoa học, trong đó nội dung được đề cập nhiều là cuộc đấu tranh chống Pháp xâm lược (1858 – 1885) và nguyên nhân để mất nước ta vào tay thực dân Pháp. Đa số các học giả cho rằng, nguyên nhân quan trọng để mất độc lập, chủ quyền là do nhà Nguyễn thiếu quyết tâm đánh Pháp đến cùng, sai lầm trong đường lối chỉ đạo chiến lược, từ bỏ vai trò lãnh đạo của người đại diện cho lợi ích dân tộc nên biến việc mất nước từ chỗ không tất yếu thành tất yếu. Nhưng cũng có ý kiến đánh giá nguyên nhân mất nước của dân tộc ta hồi nửa cuối thế kỉ XIX là do tình trạng lạc hậu và yếu kém so với phương Tây gây nên, do đó để mất nước vào tay người Pháp là điều khó tránh khỏi. Chia sẻ quan điểm của các nhà nghiên cứu lịch sử trên đây, chúng tôi nhận thấy cần đi sâu phân tích những mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ triều đình nhà Nguyễn nhằm làm sáng tỏ những mâu thuẫn về tư tưởng trong lực lượng quan lại Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Đó là cuộc đấu tranh nhằm xác định đường lối chiến lược kháng Pháp giữa hai phe chủ chiến và chủ hòa. Qua đây, chúng tôi mong muốn góp phần lí giải rõ thêm nguyên nhân để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp từ yếu tố chủ quan ở bên trong cơ quan chỉ huy cao nhất cuộc đấu tranh chống xâm lăng. Điều này không chỉ giúp cho sinh viên năm thứ hai khoa Việt Nam học có thể hiểu rõ hơn về nhà Nguyễn và lịch sử Việt Nam những năm cuối thế kỉ XIX mà còn có được cách nhìn nhận và đánh giá sự kiện lịch sử, biến cố lịch sử và vấn đề lịch sử đưới góc nhìn đa diện, nhiều chiều.

docx17 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 3438 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cuộc đấu tranh của hai phe chủ chiến - Chủ hòa và những tác động đối với cuộc đấu tranh chống Pháp xâm lược (1858 – 1888), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CUỘC ĐẤU TRANH CỦA HAI PHE CHỦ CHIẾN - CHỦ HÒA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC (1858 – 1888)  I. MỞ ĐẦU 1. Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, nhà Nguyễn là triều đại ở vị trí rất đặc biệt, đó là điểm giao thời từ Việt Nam độc lập sang nước Việt Nam nô lệ. Nhà Nguyễn tồn tại 143 năm (1802 – 1945) trong thời kì đất nước có nhiều biến động, là nhà nước phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Hiếm có triều đại nào thu hút nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu lịch sử như triều Nguyễn. Một nguyên nhân quan trọng vì đây là thời kì gần với lịch sử hiện đại Việt Nam, còn lưu giữ được nhiều những tư liệu thành văn nhưng phần khác là ở triều Nguyễn luôn tồn tại hai mảng sáng tối đan xen với nhau, dễ gây nên sự tranh luận của các nhà khoa học, trong đó nội dung được đề cập nhiều là cuộc đấu tranh chống Pháp xâm lược (1858 – 1885) và nguyên nhân để mất nước ta vào tay thực dân Pháp. Đa số các học giả cho rằng, nguyên nhân quan trọng để mất độc lập, chủ quyền là do nhà Nguyễn thiếu quyết tâm đánh Pháp đến cùng, sai lầm trong đường lối chỉ đạo chiến lược, từ bỏ vai trò lãnh đạo của người đại diện cho lợi ích dân tộc nên biến việc mất nước từ chỗ không tất yếu thành tất yếu. Nhưng cũng có ý kiến đánh giá nguyên nhân mất nước của dân tộc ta hồi nửa cuối thế kỉ XIX là do tình trạng lạc hậu và yếu kém so với phương Tây gây nên, do đó để mất nước vào tay người Pháp là điều khó tránh khỏi. Chia sẻ quan điểm của các nhà nghiên cứu lịch sử trên đây, chúng tôi nhận thấy cần đi sâu phân tích những mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ triều đình nhà Nguyễn nhằm làm sáng tỏ những mâu thuẫn về tư tưởng trong lực lượng quan lại Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Đó là cuộc đấu tranh nhằm xác định đường lối chiến lược kháng Pháp giữa hai phe chủ chiến và chủ hòa. Qua đây, chúng tôi mong muốn góp phần lí giải rõ thêm nguyên nhân để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp từ yếu tố chủ quan ở bên trong cơ quan chỉ huy cao nhất cuộc đấu tranh chống xâm lăng. Điều này không chỉ giúp cho sinh viên năm thứ hai khoa Việt Nam học có thể hiểu rõ hơn về nhà Nguyễn và lịch sử Việt Nam những năm cuối thế kỉ XIX mà còn có được cách nhìn nhận và đánh giá sự kiện lịch sử, biến cố lịch sử và vấn đề lịch sử đưới góc nhìn đa diện, nhiều chiều. Nghiên cứu những xung đột giữa hai phe chủ chiến và chủ hòa trong nội bộ nhà Nguyễn thời kì đấu tranh chống Pháp xâm lược (1858 - 1885) không những rất cần thiết để hiểu về quá khứ mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ hiện nay, nhất là ở thời điểm chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, tiến vào hội nhập cùng khu vực và thế giới. Cuộc đấu tranh nội bộ đó đã để lại bài học sâu sắc về vấn đề xây dựng sự đoàn kết nhất trí trong chính quyền nhà nước, là nhân tố quan trọng của thành công cũng như thất bại. Bài học về đoàn kết trong lực lượng lãnh đạo, đại đoàn kết toàn thể nhân dân là bài học lớn trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta và nó chính là thứ di sản quý giá của dân tộc cần được chú trọng và tiếp tục vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 2. Cho tới nay, cuộc đấu tranh giữa hai phe chủ chiến và chủ hòa trong cuộc đấu tranh chống Pháp xâm lược ở nửa cuối thế kỉ XIX đã thu hút được nhiều sự chú ý, quan tâm của các nhà khoa học. Sự phân hoá, chia rẽ trong nội bộ triều Nguyễn thành hai phe chủ chiến và chủ hoà chính là hệ quả của cuộc đụng độ giữa Việt Nam và Pháp và nó cũng chứng tỏ sự bất ổn, sự yếu kém của triều Nguyễn trong cuộc đấu tranh chống Pháp. Trong cuốn Đại cương lịch sử Việt Nam, tập II, NXB Giáo dục – 2000, các tác giả Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ đã khẳng định: “… phe chủ chiến muốn dựa vào phong kiến Trung Quốc để đánh đuổi Pháp. Tiêu biểu cho phái này có Tô Linh, Phan Hữu Nghị, Hồ Sĩ Tuấn, phe này chủ trương “phải giữ và đánh thủ để công và công để thủ, rồi quét sạch địch””. Phái chủ hoà thì lập luận khác khi họ khăng khăng bảo vệ quan điểm “chiến không bằng hoà, chống giặc duy thủ là hơn” [5; 20]. Lập luận của phe chủ hoà bị phái chủ chiến và nhân dân lên án kịch liệt bởi tư tưởng hoà lúc này là đồng nghĩa với đầu hàng giặc. Lập luận phái chủ chiến được nhân dân ủng hộ và hưởng ứng bởi tư tưởng đó là có trách nhiệm với quốc gia, dân tộc trong lúc nguy nan. Đây là nhận định đúng đắn và có cơ sở khoa học giúp chúng tôi định hướng trong quá trình đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Nhà sử học Dương Kinh Quốc trong cuốn Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 – 1918), NXB Giáo dục – 2006, thì có ý kiến khác. Ông cho rằng khi thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam thì cũng là lúc trong triều đình nhà Nguyễn có sự phân hóa sâu sắc khi có đến năm loại ý kiến khác nhau về chiến lược chống ngoại xâm. - Lấy thế thủ làm chính vì có giữ vững thì sau mới có thể bàn đến chuyện hoà hay chiến được. Đại biểu ý kiến này là Viện Cơ mật gồm Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Lưu Lượng. - kế chống giữ lâu dài làm chính vì thuyền tàu, súng đạn là cái sở trường của giặc, giặc muốn đánh mau, thắng mau, ta không nên chống lại với sở trường của chúng mà phải kiên trì chống và giữ để đợi khi chúng mệt mỏi, cần giảng hoà, lúc đó ta sẽ tuỳ cơ ứng phó. ý kiến này của các đại thần như Trương Quốc Dụng, Trần Văn Chung, Lâm Duy Hiệp, Chu Phúc Minh, Phan Huy Vịnh, Pham Chi Hương, Nguyễn Xuân Huân, Nguyễn Hữu Thành, Nguyễn Luận, Lê Đức, Vũ Xuân Sán. - Quyết tâm giữ đất, tấn công giặc, quyết không nghị hoà với giặc. Cụ thể là ở Quảng Nam, địch đã tiến sâu vào nội địa bằng đường sông ta phải dụ chúng lên bộ để tiêu diệt chúng. ở Gia Định ta nên hợp quân các tỉnh lại để nhất loạt tiến công, đốt phá, tiêu diệt địch. ý kiến này của các quan lại cấp Nha như: Tô Trân, Phạm Hữu Nghị, Trần Văn Vy, Lê Hiếu Hữu, Nguyễn Đăng Điều, Hồ Sĩ Tuấn. - Hoà có mức độ: Nếu giặc chỉ yêu cầu tự do truyền đạo và thông thương mua bán thì nên hoà, nếu đó chỉ là những yêu sách giả dối thì ta phải cố giữ. Đây là ý kiến của Vũ Đức Nhu. - Nên hoà ngay. Ý kiến của Lê Trí Tín, Đoàn Thọ, Tôn Thất Thường, Tôn Thất Dao, Nguyễn Hào [7; 16]. Tựu chung năm ý kiến là có hai luồng tư tưởng rõ ràng: chiến hay hòa. Có thể nói, đây chính là một trong những nguồn tư liệu quý cho thấy sự dao động, thiếu nhất quán ngay từ đầu trong đường lối chống Pháp của lực lượng vua quan nhà Nguyễn - những người đại diện cao nhất cho lợi ích của toàn dân tộc. Từ đây, chúng tôi có thêm những căn cứ quan trọng để có thể đánh giá thái độ và trách nhiệm của nhà nước phong kiến Nguyễn trong việc để nước ta rơi vào tay Pháp. Gần đây nhất, khi xuất bản cuốn Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh - những vấn đề nghiên cứu, NXB Tổng hợp TP.HCM – 2007, tác giả Xuân Biên khẳng định: khi tiếng súng thực dân Pháp bùng nổ, giai cấp phong kiến Việt Nam phân ra hai phe chủ hoà và chủ chiến. Phái chủ hoà phần đông bọn đại phong kiến và quan lại với Tự Đức đứng đầu nhanh chóng câu kết với thực dân Pháp để làm tay sai cho chúng đàn áp và bóc lột nhân dân cả nước. Tác giả đã xác định rõ phe chủ hòa chính là bọn phong kiến phản động chóp bu. Ý kiến này tiếp tục khẳng định sự phân chia hai phe chủ chiến và chủ hòa xuất hiện ngay từ khi cuộc đấu tranh chống Pháp xâm lược bắt đầu, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của triều đình nhà Nguyễn mà đứng đầu là vua Tự Đức với vận mệnh quốc gia dân tộc. Nhìn chung, các ý kiến này đều thừa nhận sự phân hoá sâu sắc trong nội bộ triều Nguyễn thành hai phái chủ chiến và chủ hoà. Nhưng các tác giả này đều chỉ dừng lại ở sự liệt kê mà chưa có sự phân tích và đánh giá sâu sắc về sự phân hoá đó. Ở bài viết này, chúng tôi sẽ đi vào phân tích sự phân hoá và đấu tranh của hai phe này khi đối mặt với âm mưu xâm lược của thực dân Pháp. Chúng tôi hy vọng góp phần làm rõ hơn bức tranh nội các nhà Nguyễn khi đối diện với thực dân Pháp và coi đó là nguyên nhân chủ quan quan trọng dẫn đến kết cục không có hậu của cuộc đấu tranh chống Pháp xâm lược do nhà Nguyễn tổ chức và lãnh đạo. 3. Đề tài tập trung tìm hiểu các lực lượng chủ chiến và chủ hoà dưới triều Nguyễn cùng những mâu thuẫn và xung đột của hai phe này trong suốt tiến trình đấu tranh chống Pháp xâm lược đồng thời làm sáng rõ thêm một trong những nguyên nhân thất bại của cuộc đấu tranh chống Pháp xâm lược cuối thế kỉ XIX. Đề tài tập trung phân tích cuộc đấu tranh của hai lực lượng chính trong nội các triều Nguyễn là chủ hoà và chủ chiến trong thời kỳ đấu tranh chống Pháp xâm lược từ 1858 đến 1885. Đề tài làm phải giải quyết những nội dung sau: Thứ nhất: Cần làm rõ bối cảnh lịch sử dẫn đến sự hình thành của hai phe chủ chiến và chủ hòa. Thứ hai: Xác định lực lượng của hai phe chủ chiến, chủ hòa; quan điểm đường lối và cuộc đấu tranh của hai phe này trong thời kì chống Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập chủ quyền. Ba là: Đánh giá những tác động của sự phân hóa này đối với cuộc đấu tranh chống Pháp xâm lược hồi nửa cuối thế kỉ XIX và rút ra bài học cần thiết đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay. 4. Xuất phát từ đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, đó là: phương pháp luận sử học mácxit, phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic để làm rõ quá trình phân hóa và đấu tranh của hai phe chủ chiến – chủ hòa. Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp so sánh để làm rõ các bước phát triển khác nhau của hai lực lượng trong quá trình tiến hành cuộc đấu tranh chống Pháp cũng như tác động của nó đến kết quả của cuộc đấu tranh này. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Phát súng lệnh xâm lược đầu tiên của thực dân Pháp ở Sơn Trà (Đà Nẵng) đã nhanh chóng làm chia rẽ nội bộ triều Nguyễn thành hai phe chủ chiến và chủ hoà. Từ đó trong quá trình đấu tranh chống Pháp, hai luồng tư tưởng này luôn đối chọi nhau, nhằm tiêu diệt lẫn nhau. Chỉ khi thực dân Pháp hoàn thành kế hoạch xâm lược Việt Nam thì sự phân hoá này mới chấm dứt với phần thắng nghiêng về phe chủ hoà. Cuối cùng phe chủ hoà đã câu kết với Pháp cùng bóc lột và cai trị nhân dân ta. 1. Hoàn cảnh lịch sử 1.1. Cuối thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Vấn đề tìm kiếm thị trường và thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc đang trở thành vấn đề bức thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp. Là một nước tư bản phát triển, Pháp nhanh chóng vươn lên thành một cường quốc trong hệ thống chủ nghĩa đế quốc. Bấy giờ trên thế giới, châu Á vẫn đang chìm đắm trong chế độ phong kiến nghèo nàn, lạc hậu nên đã trở thành “mảnh đất hứa” của chủ nghĩa đế quốc. Pháp nhanh chóng nhận thấy châu Á và Đông Nam Á là thị trường cần được mở rộng. Việt Nam nhanh chóng trở thành mục tiêu thôn tính của thực dân Pháp. Đầu thế kỉ XX, liên quân 8 nước đế quốc nhảy vào xâu xé Trung Quốc. Pháp là nước đi đầu và cũng gặt hái được khá nhiều lợi nhuận. Sau khi hoàn thành xong việc phân chia Trung Quốc, Pháp bắt đầu tiến hành xâm lược Việt Nam. Thực chất từ lâu Pháp đã có quan hệ với Việt Nam. Đó là thời điểm Nguyễn Ánh chạy trốn quân Tây Sơn, gặp được Bá Đa Lộc và cho con trai theo Bá Đa Lộc sang Pháp cầu cứu viện. Sau khi lập nên nhà Nguyễn, Nguyễn Ánh nhiều lúc muốn cắt đứt quan hệ với người Pháp vì ông đã phần nào nhận thấy dã tâm của người Pháp đối với đất nước này nhưng thực dân Pháp vẫn không ngừng nhòm ngó Việt Nam. Pháp đã để lại cố đạo Bá Đa Lộc nhằm làm nội ứng cho cuộc xâm lược sau này. Giai đoạn đầu, Pháp tổ chức các đội truyền giáo và thương nhân xâm nhập vào Việt Nam. Lực lượng này dưới danh nghĩa truyền đạo và buôn bán nhưng thực chất bên trong là điều tra và thống kê tình hình nước ta báo cáo về Pháp để dọn đường cho kế hoạch xâm lược. Phản ứng đầu tiên của nhà Nguyễn là ngăn cấm những giáo sĩ truyền đạo và cấm thông thương buôn bán với thương nhân Pháp. Về sau quyết liệt hơn nhà Nguyễn đã thi hành chính sách cấm đạo, giết đạo. Để hạn chế sự hoạt động của các giáo sĩ nhà Nguyễn đã ra 24 đạo dụ nhằm cấm truyền đạo vào Việt Nam. Sự cấm đoán đó của triều Nguyễn đã không những không mang lại kết quả mà còn làm cho quá trình truyền đạo diễn ra rộng hơn và sâu hơn. Những cuộc tàn sát dã man của nhà Nguyễn đã đẩy một bộ phận nhân dân ta tiến dần về phía kẻ thù và mâu thuẫn trong nước ngày càng trở nên sâu sắc. Lực lượng giáo sĩ truyền đạo đang hoạt động ngày càng tích cực nhằm phục vụ âm mưu xâm lược sắp được tiến hành. 1.2. Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chế độ phong kiến đang trên con đường khủng hoảng trầm trọng. Thời Tự Đức cao trào nông dân khởi nghĩa đã làm chế độ phong kiến lung lay tới nền móng. Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ từ năm 1848 (khi Tự Đức lên ngôi) đến năm 1862 (là năm thực dân Pháp cướp trắng ba tỉnh miền đông Nam Kỳ) đã có 40 cuộc khởi nghĩa. Để duy trì nền thống trị của mình, phong kiến nhà Nguyễn đã ra sức củng cố xã hội bằng mọi cách. Về đối nội thì đàn áp khốc liệt các cuộc khởi nghĩa nông dân. Các cuộc hành quân liên miên đã khiến lực lượng quân đội triều đình suy yếu dần, khả năng chiến đấu giảm sút. Lòng dân oán thán, chia lìa, khối đoàn kết dân tộc rạn nứt. Tình hình trên đã gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho Pháp thôn tính nước ta. Phong trào nông dân khởi nghĩa đã khẳng định rằng, vào lúc thực dân Pháp chuẩn bị nổ súng xâm lược nước ta là lúc mâu thuẫn giữa nông dân và phong kiến trở nên hết sức sâu sắc. Lợi dụng sự khốn cùng của quần chúng nhân dân lao động, các giáo sĩ phương Tây ra sức thu phục tín đồ. Lực lượng này tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn giáo – lương. Các giáo sĩ Pháp lúc này hoặc trực tiếp tổ chức hoặc đứng sau những vụ khởi loạn chống triều đình, chuẩn bị cơ sở chính trị cho cuộc xâm lăng sắp tới. Song song với những chính sách đối nội thiển cận, phong kiến Nguyễn đã cho thi hành một đường lối đối ngoại sai lầm: đẩy mạnh các cuộc xâm lược Campuchia và Lào. Từ năm 1827 đến 1847, trong vòng 20 năm, nhà Nguyễn đã gây chiến tranh với người Miên, người Xiêm và người Lào, khiến cho nhân dân vô cùng khốn khổ. Đi đánh giặc Lạp, giặc Lào, giặc Xiêm là ác mộng của nhân dân miền Trung và miền Nam trong thời gian đó. Kết quả của 20 năm theo đuổi chính sách xâm lược tai hại đã khiến cho tài lực và nhân lực bị hao mòn, hiềm thù ngày càng khoét sâu giữa các nước láng giềng với nhau, trong lúc bọn thực dân đang nhòm ngó ngoài cửa ngõ. Trên đây là một nét cơ bản về tình hình của Việt Nam giữa thế kỉ XIX trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, nổi bật lên là sự khủng hoảng của chế độ phong kiến. Nhà nước phong kiến Nguyễn đang đứng trước một thử thách to lớn: + Một là, cần phải cải cách để đáp ứng nhu cầu lịch sử, xây dựng một triều đại tiến bộ, một nhà nước có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh mẽ hơn, có khả năng duy tân đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Vấn đề này đã được không ít các quan lại cao cấp đương triều như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ… đề xuất nhưng vì điều kiện chủ quan và khách quan khác nhau mà mọi đề nghị cải cách nhà nước đều bị các vua nhà Nguyễn chối từ. + Hai là, nước Việt Nam bị xâm lược và bị biến thành một nước thuộc địa của tư bản phương Tây. Thực tế lịch sử cho thấy, khả năng thứ nhất không xảy ra, còn khả năng thứ hai thì liền kề. Khi thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam thì cũng là lúc chế độ phong kiến Việt Nam đi vào phân hoá và chia rẽ sâu sắc với hai phe chủ chiến và chủ hoà. Nhà Nguyễn đã không tìm ra sách lược hữu hiệu với kẻ thù, luôn bị động và bất đồng về đường lối, do đó nhà Nguyễn luôn tỏ ra lúng túng khi đối đầu với thực dân Pháp và cuối cùng là đầu hàng từng bước rồi để mất cả nước ta vào tay Pháp, biến quá trình mất nước không tất yếu trở thành tất yếu. 2. Quá trình hình thành và các đấu tranh giữa phe chủ chiến và chủ hoà 2.1. Quá trình hình thành hai phe chủ chiến - chủ hòa trong nội bộ triều đình Huế Sự xâm lược của thực dân Pháp đã nhanh chóng hình thành nên hai luồng tư tưởng chủ chiến và chủ hoà trong nội bộ triều Nguyễn. Hành động xâm lược của thực dân Pháp đã làm cho nội bộ triều Nguyễn vốn đã phức tạp, rối ren nay càng trở nên lúng túng bị động khi đối phó với thực dân Pháp. Sự hình thành hai luồng tư tưởng này là hệ quả của cuộc xâm lược mà Pháp tiến hành. Đó là phản ứng đầu tiên của nhà Nguyễn. Sự phân hoá thành hai phe: chủ chiến và chủ hoà trong nội bộ nhà Nguyễn diễn ra khá sớm ngay từ khi thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà. Tiêu biểu cho phe chủ hoà có Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Lưu Lượng, Trần Văn Trung, Lâm Duy Hiệp, Võ Xuân Hãn. Phe chủ chiến có Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, Phạm Hữu Nghị, Trần Văn Vi, Lê Hiểu Hữu, Nguyễn Đăng Điều. Phe chủ hoà chủ trương: “Chiến không bằng hoà, nhưng phải cố thủ rồi sau mới bàn. Kẻ địch vốn cậy quyền bền súng mạnh làm sở trường, họ ở ngoài sóng gió mặt bể, thế ta khó thắng với họ. Thượng kế bây giờ nên lấy giữ (thủ) làm chính, giữ vững rồi sau mới có thể nói đánh, cũng có thể nói đến hoà. Bằng không trước lo việc giữ thì đánh cũng không được mà hoà cũng không xong” [4; 43]. Đây là tư tưởng được Tự Đức cho là hợp lẽ phải. Sở dĩ phe chủ hoà chủ trương như vậy là bởi họ lý giải là nên nuôi sức chọn thời châm chước đối phó. Mặt khác Tự Đức và những người trong phe chủ hoà cho rằng mục đích tấn công vào thực dân Pháp chỉ là truyền đạo và buôn bán, chứ không làm gì tổn hại đến ta. Cái nhìn đó của vua quan nhà Nguyễn là thiển cận, bó hẹp trong phạm vi một quốc gia đang cố duy trì nềnn tảng của chế độ phong kiến, không mở rộng ra thế giới nên thiếu hiểu biết về bản chất của đế quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng. Hơn nữa, không ít người trong số vua quan nhà Nguyễn vốn sớm mang tư tưởng hoang mang lo sợ giặc khi chúng ngấp nghé ngoài cửa ngõ nên dao động sinh ra chủ hoà nhằm bảo vệ quyền lợi ích kỉ của giai cấp mình. Lập trường của phe này tỏ ra phản động và không hợp lòng dân. Đối lập với phe chủ hoà, phe chủ chiến chủ trương công thủ. Họ cho rằng: “Quảng Nam, Gia Định địa thế, địch tính đại đồng mà tiểu dị, địch ở ngoài xa khơi thì khó đánh, địch vào nội địa càng dễ đánh, dễ bị tiêu diệt. Phải giữ và đánh, thủ để công, công để thủ, quét sạch địch, bằng nay hoà với họ thì sẽ bắt ta bỏ tấn và thông thương, xây nhà thờ, mở phố xá, rồi trăm sự xảo quyệt đều do một chữ hoà mà ra cả”[4; 44]. Phái chủ chiến ngay từ đầu đã có tinh thần chống giặc triệt để. Bởi theo họ hoà lúc này nghĩa là đầu hàng giặc. Tuy thế giặc mạnh nhưng quan quân một lòng đánh giặc thì thực dân Pháp cũng không phải là đáng lo ngại. Đối lập với đường lối của phe chủ hoà, phe chủ chiến đã lường trước được âm mưu của thực dân Pháp. Đó là nhu cầu mở rộng thuộc địa chứ không chỉ đơn giản là truyền đạo và thông thương. Chủ trương này xem ra đúng đắn, hợp lòng dân nhưng đa số đình thần không nghe theo. Bởi họ đã sớm mang tư tưởng sợ giặc và chủ hoà. Cuối cùng, khi tiếng súng của giặc đã nổ bên tai mà triều đình vẫn còn bận tranh cãi nghị luận lung tung, người đánh, kẻ hoà, trên dưới không nhất trí, đánh hoà không ngã ngũ, do đó dẫn đến lúng túng bị động trước những đợt tấn công của thực dân Pháp. Cơ sở và chỗ dựa của phái chủ chiến là các lực lượng chống Pháp trong nhân dân. Còn chỗ dựa của phái chủ hoà là thực dân Pháp, vì thế mâu thuẫn, xung đột giữa hai phe thường xuyên xảy ra. Trong khi phái chủ hoà ngày càng gắn bó với thực dân Pháp, nhất nhất làm theo mệnh lệnh của chúng thì phái chủ chiến cũng tìm cách đối phó. Về đường lối, phe chủ hoà chủ chương mềm dẻo, đàm phán để đấu tranh với địch, còn phe chủ chiến thì sử dụng bạo lực, chiến tranh để tiêu diệt địch. Hai chủ chương này hoàn toàn đối lập nhau và cuối cùng đều đi đến thất bại. 2.2. Sự phân hoá sâu sắc và cuộc đấu tranh giữa hai phe chủ chiến và chủ hoà Khi thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược Việt Nam, nội bộ triều đình Huế đã sớm bị phân hoá. Trong suốt quá trình Pháp xâm lược Việt Nam, hai phe này mâu thuẫn sâu sắc với nhau, tìm cách loại bỏ nhau. Cuối cùng công cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp kết thúc và phe chủ hoà đã giành được thắng lợi. Từ đó, phe chủ hoà câu kết chặt chẽ và bắt tay với Pháp cùng chia sẻ quyền lợi. 2.2.1. Giai đoạn 1858 – 1883 từ khi Pháp bắt đầu xâm lược đến khi Tự Đức mất (17/7/1883) Từ chiều ngày 31/8/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã