Hồ Chí Minh với việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức yêu nước cho cách mạng Việt Nam giai đoạn 1924 – 1930

Tóm tắt Trong tiến trình phát triển của lịch sử, sự hưng thịnh của bất kỳ quốc gia nào cũng phải dựa vào trí tuệ của muôn dân, trong đó trí tuệ của người trí thức đóng một vai trò quan trọng và đã để lại những dấu ấn đậm nét. Hồ Chí Minh sinh thời đã sớm khẳng định vai trò quan trọng của trí thức trong sự nghiệp cách mạng. Người không chỉ quý trọng trí thức trên phương diện nhận thức về vị trí, vai trò của họ mà bằng nhiều hành động cụ thể, Người đã cố gắng xây dựng, tổ chức, đào tạo một đội ngũ trí thức ngày càng hùng hậu, trở thành lực lượng cách mạng tiên phong của dân tộc, nhất là trong giai đoạn 1924 – 1930.

pdf8 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 184 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hồ Chí Minh với việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức yêu nước cho cách mạng Việt Nam giai đoạn 1924 – 1930, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology Số 2/2016 No. 2/2016 207 HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC YÊU NƯỚC CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1924 – 1930 ThS. Nguyễn Thị Thu Trang Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung Tóm tắt Trong tiến trình phát triển của lịch sử, sự hưng thịnh của bất kỳ quốc gia nào cũng phải dựa vào trí tuệ của muôn dân, trong đó trí tuệ của người trí thức đóng một vai trò quan trọng và đã để lại những dấu ấn đậm nét. Hồ Chí Minh sinh thời đã sớm khẳng định vai trò quan trọng của trí thức trong sự nghiệp cách mạng. Người không chỉ quý trọng trí thức trên phương diện nhận thức về vị trí, vai trò của họ mà bằng nhiều hành động cụ thể, Người đã cố gắng xây dựng, tổ chức, đào tạo một đội ngũ trí thức ngày càng hùng hậu, trở thành lực lượng cách mạng tiên phong của dân tộc, nhất là trong giai đoạn 1924 – 1930. Từ khóa Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc, trí thức, thanh niên, đào tạo, bồi dưỡng. 1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về trí thức Trí thức là từ có nguồn gốc từ tiếng Pháp: intellectuel, xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 được dùng để chỉ một tầng lớp công dân ở Pháp là những người không chỉ có trình độ học vấn và chuyên môn cao mà còn phải có chính kiến trước những vấn đề chính trị xã hội lúc bấy giờ. Từ khi xuất hiện cho đến nay, đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về trí thức. Trước Hồ Chí Minh, Lênin – người lãnh đạo vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới đã cho rằng trí thức chính là niềm tự hào vĩ đại của nhân loại. Trí thức không phải là giai cấp, mà chỉ "là một tầng lớp đặc biệt" trong xã hội. Do đặc điểm lao động của mình, tầng lớp trí thức luôn phải gắn với những giai cấp nhất định và thường là giai cấp thống trị. Kế thừa các quan điểm trước đó, trải qua quá trình học tập và nghiên cứu, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm về trí thức như sau: “Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác. Một người học xong đại học, có thể gọi là trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức toàn toàn, Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology Số 2/2016 No. 2/2016 208 thì phải biết đem trí thức đó áp dụng vào thực tế [1]. Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò, vị trí của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp cách mạng giải phóng và công cuộc xây dựng đất nước, là một bộ phận quan trọng trong lực lượng cách mạng. Trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, Người đã chỉ rõ Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên và Tân Việt, v.v... để kéo họ đi vào phe giai cấp vô sản, bởi lẽ không có trí thức hợp tác với công nông thì sự nghiệp cách mạng không thể thành công. Đây là mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau, tác động vào nhau, bổ sung cho nhau, tạo thành sức mạnh công – nông – trí. Chính vì đánh giá cao vai trò của trí thức nên Hồ Chí Minh rất quan tâm tới công tác đào tạo cán bộ trí thức có văn hoá, có lối sống lành mạnh, những người có đủ cả tài đức và coi vấn đề huấn luyện, đào tạo cán bộ là công việc rất lớn, rất quan trọng của Đảng và Nhà nước. Người khẳng đinh: “Đảng và Chính phủ biết kháng chiến và kiến quốc thì phải cần trong mọi ngành: kinh tế tài chính, quân sự, văn hóa có những người trí thức để giúp vào mới thành”[2]. Đảng và Chính phủ phải biết tôn vinh trí thức và trí thức phải biết tôn trọng Đảng, Chính phủ, tôn trọng nhân dân lao động. Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những khuyết điểm mà trí thức còn mắc phải là cá nhân chủ nghĩa, không kiên quyết, bàng quang, óc bảo thủ. Người phân tích: “Tính bảo thủ tức là không có sáng kiến. Trước thế nào là sau cứ làm thế. Không có chịu suy nghĩ ra cái mới. Nghĩ đến cái mới là ngại, không muốn tiến bộ”[3]. Vì vậy mà Người yêu cầu người trí thức ngoài tài năng ra thì phải có cuộc sống lành mạnh, có đạo đức và tư cách tốt, phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Có thể nói quan điểm của Hồ Chí Minh về trí thức là những luận điểm hết sức quan trọng để Đảng ta sau này áp dụng vào trong chính sách đối với trí thức, sử dụng nhân tài cho sự phát triển đất nước. 2. Những tiền đề đầu tiên cho việc đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn bị lực lượng cho cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đất nước ta đắm chìm trong đêm trường nô lệ. Trước tình cảnh ấy, nhân dân ta đã phát huy truyền thống yêu nước từ bao đời để đứng dậy tiến hành nhiều cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai nhưng đều thất bại. Nhiều chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã xuất dương tìm đường cứu nước nhưng vẫn không tìm ra được một con đường mang lại hiệu quả đích thực. Trước tình hình đó, ngày 5/6/1911, chàng thanh niên trẻ Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc để ra nước ngoài tìm đường cứu nước cứu dân. Sự thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã giúp cho Người rút ra kết luận rằng muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải có lý luận dẫn đường, không thể làm liều, làm ẩu, làm nhanh một sớm một chiều là có thể thành công được. Vì vậy năm 1917, ngay khi trở lại Pháp, Người đã có nhiều cuộc tiếp xúc với các nhà văn hóa, trí thức, tham gia các cuộc sinh hoạt chính trị sôi nổi. Với nhiệt huyết của tuổi thanh niên, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra “Nhóm những người Việt Nam yêu nước” tại Pháp. Thành viên của nhóm hầu hết là thanh niên công nhân, binh lính, trí thức, sinh viên. Do công tác tuyên truyền, tổ chức của nhóm được tiến hành tích cực nên cơ sở của nhóm phát triển khá mạnh. Trải qua quá trình hoạt động không mệt mỏi, uy tín của Người bắt đầu hình thành từ năm 1919 với Bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến hội nghị Vecxai đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Với bản yêu sách này, Nguyễn Ái Quốc đã gây tiếng vang lớn không những trong dư Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology Số 2/2016 No. 2/2016 209 luận xã hội nước Pháp mà còn dội mạnh về trong nước, tạo nên một bước chuyển mới trong phong trào giải phóng dân tộc. Cùng với đó là những hoạt động chính trị hết sức sôi nổi càng làm cho tên tuổi của Người lan truyền nhanh chóng, đặc biệt là ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Ở trong nước, nhiều thanh niên trí thức còn trăn trở với vận nước đã được khích lệ, thôi thúc họ ra nước ngoài tìm Nguyễn Ái Quốc. Năm 1920 đánh dấu một bước phát triển mới trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc khi Người đọc được bản sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin. Luận cương của Lênin đã chỉ cho Người con đường giải phóng dân tộc, mở đầu cho một sự chuyển biến cách mạng thực sự trong lịch sử tư tưởng nước ta. Sau đó tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua (12/1920), Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III, và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt lớn trong hoạt động của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản. Tháng 6/1923, khi rời nước Pháp sang Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã để lại cho những người bạn chiến đấu của mình trong Hội Liên hiệp thuộc địa và Tòa soạn báo Le Paria một lá thư thắm tình đồng đội, chan chứa sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ và bày tỏ ý định của Người: “Chúng ta phải làm gì? Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập” [4]. Tại Liên Xô, một mặt Người thường xuyên tham gia các đại hội và hội nghị quốc tế nhằm thu hút sự quan tâm của dư luận đối với phong trào đấu tranh ở các nước thuộc địa. Mặt khác Người còn tìm hiểu, nghiên cứu hệ thống giáo dục ở đây lúc bấy giờ và tìm khả năng cử người Việt Nam sang đây học tập. Có thể thấy Nguyễn Ái Quốc từ rất sớm đã chuẩn bị cho việc gửi cán bộ cách mạng Việt Nam sang đào tạo tại Liên Xô. Như vậy từ nhận thức muốn cứu nước cứu dân, không còn con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc đã ra sức chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập một chính Đảng vô sản ở Việt Nam. Mà muốn như vậy thì việc đầu tiên là phải xây dựng được một lực lượng cách mạng. Vì vậy Người đã quan tâm, phát hiện những thanh niên trí thức Việt Nam có tinh thần yêu nước đang sống và làm việc trong nước và đưa đi đào tạo, bồi dưỡng họ thành lực lượng cách mạng tiên phong. 3. Hồ Chí Minh và việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức yêu nước cho cách mạng Việt Nam giai đoạn 1924 – 1930 Sau khi xem xét những điều kiện khó khăn và thuận lợi, tháng 11/1924, với danh nghĩa là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã từ nước Nga đến Quảng Châu (Trung Quốc) và chọn nơi đây làm đầu cầu cho cách mạng Việt Nam, là nơi mở đầu cho việc tiến hành đào tạo lực lượng thanh niên trí thức yêu nước và chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của một Đảng cách mạng chân chính ở Việt Nam, gây dựng cơ sở cho cách mạng vùng Đông Nam Á và Châu Á và chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Ngay sau khi đến Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến một tổ chức của những người yêu nước Việt Nam là Tâm Tâm xã lúc bấy giờ đang băn khoăn trước các ngả đường cứu nước khác nhau. Đây là cơ hội và là mảnh đất tốt để Nguyễn Ái Quốc gieo mầm lý luận cách mạng. Có thể nói từ tháng 12/1924 đến tháng 2/1925 là thời gian Nguyễn Ái Quốc làm việc mật thiết với nhóm thanh niên trong tổ chức này. Tâm Tâm xã là tổ chức của trí thức tiểu tư sản yêu nước tiến bộ được thành lập năm 1923 do một nhóm thanh niên gồm 7 người Việt Nam xuất dương sang Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology Số 2/2016 No. 2/2016 210 Trung Quốc. Mặc dù mục đích, tôn chỉ và lập trường tư tưởng của Tâm Tâm xã có bước phát triển hơn nhưng nhìn chung vẫn còn sự mơ hồ về giai cấp và còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản. Tiếng bom Sa Diện (1924) và sự hi sinh của Phạm Hồng Thái (1895-1924) là một biểu hiện cụ thể nhất của tổ chức này. Qua sự kiện trên đã thể hiện tính chất manh động trong nhận thức và hành động nhất thời của tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Vì vậy cùng với việc tìm hiểu hoạt động, bày tỏ sự khâm phục tinh thần yêu nước của Phạm Hồng Thái, Nguyễn Ái Quốc đã thẳng thắn nhận xét, nêu lên sai sót trong nhận thức, hành động của nhóm. Sau đó Người đã tiến hành những lớp bồi dưỡng nhỏ, giới thiệu về Cách mạng tháng Mười Nga, về Quốc tế Cộng sản, về chủ nghĩa Mác – Lênin và đưa đến kết luận cách mạng muốn thành công phải dựa vào nhân dân, đặc biệt là công nhân và nông dân, phải có Đảng tiên phong lãnh đạo. Với lý luận sắc bén, phong phú, cởi mở, Người đã tạo niềm tin mạnh mẽ và đưa dần họ đến với chân lý cách mạng. Chính từ Tâm Tâm xã đã cung cấp cho cách mạng Việt Nam những người chiến sĩ cộng sản đầu tiên và xuất sắc như Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Trong bản báo cáo đầu tiên cho Chủ tịch đoàn Quốc tế Cộng sản ngày 18/12/1924, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Sau khi đã tán thành kế hoạch này, ông đã đưa cho tôi một bản danh sách 10 người An Nam đã cùng ông hoạt động. Tôi đã chọn 5 người quê ở 5 tỉnh khác nhau. Chúng tôi sẽ cử một người An Nam đưa họ tới Quảng Châu. Tôi sẽ huấn luyện cho họ về phương pháp tổ chức. Chúng tôi sẽ gửi họ trở về Đông Dương hoạt động sau 3 tháng học tập; và chúng tôi sẽ lấy ra một đoàn khác. Trong lúc này, đây là biện pháp duy nhất” [5]. Như vậy từ cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã tìm được lực lượng để gieo mầm cách mạng, đó là những thanh niên có lòng yêu nước, hăng hái cách mạng, có học thức, nhạy cảm với cái mới, từ đó hình thành tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 2/1925, từ lớp huấn luyện về công tác tổ chức và tuyên truyền, Nguyễn Ái Quốc đã chọn ra chín người tích cực nhất lập ra một nhóm bí mật làm hạt nhân cho tổ chức rộng lớn sau này lấy tên là Cộng sản Đoàn. Trong báo cáo gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản đề ngày 19/2/1925, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Chúng tôi đã lập một nhóm bí mật gồm 9 đội viên trong đó: 2 người được phái về nước; 3 ngưởi ở tiền tuyến (trong quân đội của Tôn Dật Tiên); 1 người đang đi công tác quân sự (cho Quốc dân Đảng). Trong số hội viên đó có 5 người đã là đảng viên dự bị của Đảng Cộng sản” [6]. Có thể nói con đường truyền bá tư tưởng giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác - Lênin vào giai cấp công nhân và nhân dân yêu nước Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện lúc đó là dựa vào thanh niên, lớp người trẻ tuổi có lòng yêu nước, căm thù giặc, hăng hái, có học thức, được học tập lý luận cách mạng do chính Người đào tạo. Sự ra đời của nhóm Cộng sản Đoàn này tuy còn quá nhỏ bé nhưng nó đã đánh dấu thời điểm khai sinh ra một thế hệ thanh niên trí thức mới theo xu hướng Cộng sản chủ nghĩa. Tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc lập ra tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và cho ra đời tờ báo Thanh niên làm cơ quan ngôn luận của tổ chức. Thông qua tổ chức này, Nguyễn Ái Quốc đã tập hợp được những người Việt Nam yêu nước tiêu biểu nhất, làm cơ sở cho một tổ chức đảng lớn hơn. Cùng với đó, Người gấp rút đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt cho phong trào cách mạng, tiến hành tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin trong quần chúng nhân dân. Cuối năm 1925, Người mở trường huấn luyện chính trị tại trụ sở của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở số nhà 13 và 13B đường Văn Minh, Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology Số 2/2016 No. 2/2016 211 Quảng Châu mà Người là giảng viên chính. Ngoài ra còn có hai giáo viên phụ giảng là Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn. Các giáo viên Liên Xô ở trường Quân chính Hoàng Phố như V.K.Bluikhe, B.A.Páplốp, M.V.Quybưsép, cũng đến giảng bài cho các lớp huấn luyện. Mục đích học tập của các lớp chính trị này là học làm cách mạng, học cách hoạt động bí mật. Học xong họ lại bí mật về nước truyền bá lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân. Học viên tuy là những người có trình độ văn hóa nhưng còn hết sức bỡ ngỡ với biết bao khái niệm chính trị, triết học... mà họ chưa hề biết đến. Tất cả những điều mới mẻ trên có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với lớp thanh niên đang khát khao lý tưởng, khát khao tìm đường cứu nước, cứu dân. Chương trình học tập của lớp huấn luyện khá rộng, bao gồm cả lý thuyết lẫn thực hành. Qua chương trình huấn luyện, học viên được vũ trang cả về lý luận cách mạng vô sản và phương pháp cách mạng; hiểu thêm về lịch sử tiến hoá của nhân loại, đặc biệt là thời kỳ chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc; về phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc; những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Tam dân Tôn Dật Tiên, học thuyết chủ nghĩa Mác – Lênin, lịch sử Cách mạng tháng Mười Nga; lịch sử ba Quốc tế; về nguyên tắc hoạt động bí mật; về kỹ năng thực hành công tác vận động và tổ chức quần chúng, kỹ năng thực hiện các công việc cách mạng như làm báo, diễn thuyết, v.v... Trong những môn học được nghiên cứu ở lớp huấn luyện thì những vấn đề cách mạng Việt Nam được nghiên cứu kỹ hơn cả, ví dụ như cách mạng Việt Nam mang tính chất gì, giai cấp nào có thể tham gia tích cực vào cuộc cách mạng ấy, v.v Trong phương pháp vận động cách mạng, Hồ Chí Minh nêu phương pháp để vận động công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp khác. Đối với trí thức thì Người nhấn mạnh đến vai trò, đặc điểm của trí thức Việt Nam và cách sử dụng trí thức như thế nào cho hiệu quả. Ngoài ra trong những bài giảng của mình, Nguyễn Ái Quốc thường có những ví dụ cụ thể, đưa ra những số liệu để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận phức tạp, so sánh với tình hình thực tế giúp cho học viên có thể tiếp thu nhanh, dễ hiểu và nhớ lâu. Người thường khuyên các học viên cần phải đặc biệt chú ý đến ý nghĩa của số liệu. Đó là số liệu chứng minh tốt nhất. Từ tư liệu sẽ toát lên thực trạng của sự vật. Người nói: “Người cách mạng phải luôn luôn nắm được tình hình chính trị nóng nổi. Hãy đọc báo nhiều hơn nữa, vì rằng báo chí chứa đựng bản thân cuộc sống. Và như vậy, các đồng chí sẽ hiểu được tình hình một cách tốt hơn”[7]. Người còn thường xuyên đến dự những buổi thảo luận, diễn đàn của học viên để nắm vững tình hình học tập của họ, từ đó có kế hoạch đào tạo đúng đắn, khắc phục những thiếu sót, giúp cho việc học có hiệu quả hơn. Kết quả tổng số học viên cho đến tháng 4/1927 là 10 lớp với khoảng hơn 250 học viên. Tiếp đến, Người đưa thanh niên về trong nước thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ là xây dựng một hệ thống tổ chức cách mạng từ chi bộ lên kỳ bộ trên toàn quốc và lực chọn những thanh niên trí thức yêu nước sang Quảng Châu dự các lớp huấn luyện chính trị. Cụ thể với sự phân công của Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Công Thu và Nguyễn Danh Thọ về Bắc hoạt động; Trần Phú, Phan Trọng Quảng và Nguyễn Ngọc Ba về Trung; Phan Trọng Bình và Nguyễn Văn Lợi về Nam, v.v... Với sự nỗ lực của những người tiên phong, đến những tháng đầu năm 1927, một hệ thống tổ chức Cách mạng Thanh niên được phủ khắp đất nước, nhịp độ và quy mô thanh niên trong nước bí mật sang Quảng Châu học ngày một tăng. Riêng ở Bắc kỳ và Trung kỳ, trong năm 1926 và đầu năm 1927 đã có khoảng 180 người sang theo học, từ đó mở ra triển vọng lớn trong việc đào tạo đội ngũ những người tuyên truyền và những người tổ chức, và Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology Số 2/2016 No. 2/2016 212 bước đầu thực hiện có kết quả kế hoạch mà Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra. Có thể nói những thế hệ thanh niên đầu tiên được Nguyễn Ái Quốc đào tạo đã trở thành những chiến sĩ Cộng sản ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, đẩy lùi các khuynh hướng cải lương và dân tộc hẹp hòi của các Đảng phái tư sản và tiểu tư sản, đấu tranh chống lại các khuynh hướng tả và hữu, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin giữ vị trí chủ đạo trong phong trào cách mạng. Lần đầu tiên họ đã lăn lộn vào phong trào quần chúng, tổ chức, cổ vũ quần chúng đấu tranh với địch đòi quyền dân sinh, dân chủ, giác ngộ quần chúng công nông, chuẩn bị điều kiện cho việc thành lập tổ chức tiền thân của Đảng. Như vậy từ lớp huấn luyện này đã đào tạo nên một đội ngũ hùng hậu các nhà cách mạng chuyên nghiệp cống hiến suốt cuộc đời cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Được thế, có thể nói trước hết nhờ tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại lớp huấn luyện chính trị còn được tập hợp và in thành sách với tên gọi là Đường Kách mệnh (1927). Tác phẩm đã trở thành vũ khí chiến đấu của những người cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Trong đó bài học đầu tiên là tư cách của một người cách mạng trong ba mối quan hệ: đối với bản thân, đối với người và đối với công việc. Người đề ra yêu cầu đối với người cách mạng là “tự mình phải cần kiệm. Hoà mình không tư. Cả quyết sữa lỗi của mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu
Tài liệu liên quan