TÓM TẮT
Tại Việt Nam hiện nay, các công trình công cộng đang xây dựng và sử dụng hầu hết đều thiếu các
phương tiện và trang thiết bị, cũng như các giải pháp thiết kế để người khiếm thị tiếp cận. Đây là rào
cản hạn chế họ hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực và đóng góp cho xã hội. Bài nghiên cứu đặt ra
một số vấn đề nhìn từ góc độ pháp lý về quyền tiếp cận công trình công cộng của người khiếm thị.
11 trang |
Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Không gian công trình công cộng cho người khiếm thị tiếp cận – Nhìn từ góc độ pháp lý, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN SAIGON UNIVERSITY
TẠP CHÍ KHOA HỌC SCIENTIFIC JOURNAL
ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY
Số 68 (02/2020) No. 68 (02/2020)
Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website:
76
KHÔNG GIAN CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG CHO
NGƯỜI KHIẾM THỊ TIẾP CẬN – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LÝ
Space of public works for visually impaired people –
View from legal perspective
ThS. Nguyễn Minh Kiên
Trường Đại học FPT
TÓM TẮT
Tại Việt Nam hiện nay, các công trình công cộng đang xây dựng và sử dụng hầu hết đều thiếu các
phương tiện và trang thiết bị, cũng như các giải pháp thiết kế để người khiếm thị tiếp cận. Đây là rào
cản hạn chế họ hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực và đóng góp cho xã hội. Bài nghiên cứu đặt ra
một số vấn đề nhìn từ góc độ pháp lý về quyền tiếp cận công trình công cộng của người khiếm thị.
Từ khóa: công trình công cộng, không gian, người khiếm thị, pháp lý
ABSTRACT
Nowadays in Vietnam, public works which have been constructed and used mostly lack facilities and
equipment, as well as design solutions for visually impaired people to access. This is a barrier that
restrains visually impaired people to integrate into the community, promote their capacities and
contribute to the society. The research raises several issues from legal perspective on the right of access
to public works of the visually impaired people.
Keywords: public works, space, visually impaired people, legal
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, người khuyết tật nói chung,
người khiếm thị nói riêng gặp nhiều khó
khăn trong việc tiếp cận các công trình
công cộng, thậm chí đó là những công
trình đặc biệt như các trung tâm người
khuyết tật, văn phòng hội người khuyết tật,
trường học cho người khuyết tật. Có rất
nhiều rào cản cản trở họ tham gia bình
đẳng như những người khác trong cuộc
sống, hầu hết những rào cản này lại do xã
hội dựng nên. Người khuyết tật mặc dù
gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, hòa
nhập cuộc sống nhưng họ cũng có những
ước mơ, hy vọng và những ý tưởng muốn
chia sẻ với cộng đồng. Mỗi người đều là
một phần của xã hội và đều có thể cống
hiến cho xã hội khả năng độc đáo của
riêng mình. Abraham Harold Maslow, giáo
sư tâm lý học người Mỹ đưa ra năm nhu
cầu cơ bản của con người:
- Nhu cầu sinh lý cơ bản
- Nhu cầu an toàn
- Nhu cầu về quan hệ xã hội
- Nhu cầu được kính nể, ngưỡng mộ
- Nhu cầu được phát huy bản ngã,
thành đạt.v.v. (Nguyễn Quang Uẩn, 2010,
tr.12).
Email: KienNM2@fe.edu.vn
NGUYỄN MINH KIÊN TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
77
Mỗi người đều có sự khác biệt, từ vẻ
bề ngoài tới những ý tưởng, suy nghĩ, trải
nghiệm, cách sống và khả năng. Sự khác
biệt, độc đáo trong mỗi người là tài sản vô
giá mà chúng ta cần trân trọng và chia sẻ.
Sự khác biệt tạo ra những cơ hội mới, hy
vọng mới, ước mơ mới và cả sự nhân ái
trong cộng đồng. Cộng đồng cần quan tâm
tới ước vọng cá nhân giúp cho con người
tìm được bản ngã đích thực của mình để
sống một cách thoải mái, cởi mở, hồn
nhiên và sáng tạo, “bản chất con người vốn
tốt đẹp, con người có lòng vị tha, có tiềm
năng kỳ diệu” (Nguyễn Quang Uẩn, 2010,
tr.12) và “con người ta phải đối xử với
nhau một cách tế nhị, cởi mở, biết lắng
nghe và chờ đợi, cảm thông với nhau”
(Nguyễn Quang Uẩn, 2010, tr.13). Quan
tâm tới người khiếm thị là một phần của sự
phát triển vì “chất lượng của một xã hội,
xét cho cùng, được đánh giá bằng cách đối
xử với những người dân yếu thế nhất trong
xã hội” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.96).
2. Quyền được tiếp cận các công
trình công cộng của người khiếm thị
“Lịch sử loài người đã chứng minh
rằng, về mặt cơ thể học, xã hội bao giờ
cũng gồm hai nhóm người: người lành lặn
và người khuyết tật. Người khuyết tật là
một bộ phận dân cư, là nhóm người dễ bị
tổn thương, tồn tại khách quan trong xã hội
loài người” (Nguyễn Thị Báo, 2010, tr.5).
Người khuyết tật có ở các nước trên thế
giới, trong đó có Việt Nam. Tôn trọng và
đảm bảo quyền của người khuyết tật không
chỉ là vấn đề mang ý nghĩa nhân đạo, từ
thiện mà còn là vấn đề mang ý nghĩa kinh
tế, xã hội và pháp lý (Nguyễn Thị Báo,
2011, tr.5). Quyền của người khuyết tật đã
trở thành một định chế pháp lý quan trọng
trong luật quốc tế hiện đại. Đảm bảo quyền
của người khuyết tật là nghĩa vụ và lương
tri của nhân loại tiến bộ bởi vì “tất cả các
quyền con người và tự do cơ bản mang tính
phổ cập cho tất cả mọi người và do đó, cho
cả những người khuyết tật. Mọi người sinh
ra đều bình đẳng và đều có quyền sống và
phúc lợi, quyền được giáo dục và có việc
làm, quyền sống một cách độc lập và được
tham gia tích cực vào mọi mặt đời sống xã
hội. Bất kỳ một sự phân biệt trực tiếp hoặc
phân biệt đối xử tiêu cực khác đối với
người khuyết tật đều vi phạm các quyền
con người” (Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu quyền
con người, 1998, tr.126) và “ người
khuyết tật cần được đảm bảo cơ hội đồng
đều thông qua việc xóa bỏ tất cả các trở
ngại, định kiến xã hội về mặt thể chất, tài
chính, xã hội hoặc tâm lý mà đã loại trừ
hoặc hạn chế sự tham gia hoàn toàn của họ
vào đời sống xã hội” (Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên
cứu quyền con người, 1998, tr.127). Các
quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng hóa các cơ
hội cho người khuyết tật được Đại hội
đồng liên hợp quốc thông qua ngày 20-12-
1993 (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.4; Nguyễn
Thị Báo, 2011, tr.16, tr.95, tr.97) là văn
bản ra đời từ kết quả của thập kỷ về người
khuyết tật. Công ước Quốc tế về người
khuyết tật được Liên Hợp quốc thông qua
ngày 13-12-2006 đã tiếp cận khái niệm
khuyết tật và người khuyết tật một cách
toàn diện dưới góc độ quyền con người
(Đàm Hữu Đắc, 2007, tr.4; Nguyễn Thị
Báo, 2011, tr.7, tr.95), công ước khẳng
định: “Tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận
người khuyết tật như là một bộ phận và sự
đa dạng của con người và của nhân loại”
(Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.17). Công ước
“thừa nhận rằng khuyết tật là một khái
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 68 (02/2020)
78
niệm ngày càng phát triển và rằng khuyết
tật là kết quả của việc tương tác giữa
những người bị khiếm khuyết và những rào
cản môi tường và thái độ làm mất đi sự
tham gia hiệu quả và đầy đủ của họ vào xã
hội trên cơ sở bình đẳng với những người
khác” và “những người khuyết tật là những
người có sự khiếm khuyết suốt đời cả về
thể chất, tinh thần, trí tuệ mà những khiếm
khuyết này tạo ra rào cản có thể hạn chế
khả năng tham gia đầy đủ và hiệu quả vào
xã hội trên cơ sở bình đẳng với những
người khác”. Các quốc gia tham gia Công
ước phải đảm bảo quyền được thụ hưởng
bình đẳng mọi dịch vụ công cộng của
người khuyết tật. Công ước quốc tế về các
quyền của người khuyết tật được xây dựng
dựa trên khuôn khổ tuyên ngôn Quốc tế về
nhân quyền, có hiệu lực ngày 3-5-2008 và
lần đầu tiên Công ước đã thiết lập quyền
của tất cả người khuyết tật trên toàn thế
giới. Đây là Hiệp ước đầu tiên mang lại vị
thế và quyền hợp pháp nhìn nhận tình trạng
khuyết tật như là một vấn đề về quyền con
người. Công ước còn có ý nghĩa đặc biệt
khi thay đổi cách nhìn đối với tình trạng
khuyết tật là một vấn đề xã hội chứ không
phải là vấn đề y tế và xác lập sự dịch
chuyển từ phương thức tiếp cận theo hướng
nhân đạo sang hướng nhân quyền. Ngoài
ra, còn có tuyên bố Melen Kellee về quyền
của những người mù, điếc năm 1977
(Nguyễn Thị Báo, 2007, tr.7), tuyên bố về
sự tham gia đầy đủ và bình đẳng của người
khuyết tật ở khu vực châu Á-Thái Bình
Dương năm 1993 (Nguyễn Thị Báo, 2007,
tr.7). Thập kỷ người khuyết tật khu vực
châu Á – Thái Bình Dương lần thứ hai từ
năm 2003 – 2012, khuôn khổ hành động
thiên niên kỷ Biwako hướng tới một xã hội
hòa nhập và không rào cản trong đó có lĩnh
vực tiếp cận các môi trường xây dựng và
giao thông công cộng (Bùi Sỹ Lợi, 2009,
tr.6; Nguyễn Thị Báo, 2007, tr.8).
Vấn đề quyền của người khuyết tật nói
chung, người khiếm thị nói riêng, không
còn là mối quan tâm của một quốc gia mà
đã trở thành mối quan tâm của cả cộng
đồng quốc tế. Năm 1981, Liên Hợp quốc
đã phát động “Năm quốc tế về người
khuyết tật” thông qua Chương trình hành
động vì người khuyết tật năm 1982 nhằm
đạt tới một xã hội công bằng cho tất cả mọi
người (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.5). Theo
tài liệu của Liên Hợp quốc, trên thế giới có
khoảng 700 triệu người khuyết tật, trong đó
có 200 triệu là trẻ em (Nguyễn Thị Kim
Anh và cộng sự, 2007, tr.15). Như vậy có
khoảng 10% dân số ở bất kỳ các quốc gia
là người khuyết tật. Hiến pháp các năm
1946, 1959, 1980, 1992 cũng đều khẳng
định người khuyết tật là công dân, là thành
viên của xã hội, có quyền lợi và nghĩa vụ
của một công dân, được chung hưởng
thành quả xã hội (Nguyễn Thị Báo, 2005,
tr.3; Bùi Hồng Lĩnh, 2009, tr.3). Chủ tịch
Hồ Chí Minh từng nói: tàn nhưng không
phế, câu nói đó khái quát và phản ánh rõ
quan điểm của Đảng, Nhà nước và nhân
dân Việt Nam luôn tôn trọng quyền, tự do,
phẩm giá và năng lực của người khuyết tật.
Người khuyết tật tuy là nhóm người đặc
biệt, dễ bị tổn thương cần được xã hội quan
tâm, nhưng họ vẫn có những quyền cơ bản
và bình đẳng như những người khác
(Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.8). Người
khuyết tật cần xã hội quan tâm giúp đỡ
không chỉ để tồn tại mà họ có quyền yêu
cầu xã hội tạo cơ hội bình đẳng để họ thực
hiện quyền và nghĩa vụ của mình, khẳng
định vị trí và đóng góp vào sự phát triển
chung của xã hội (Nguyễn Thị Báo, 2011,
NGUYỄN MINH KIÊN TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
79
tr.12). Pháp lệnh về người khuyết tật năm
1989 cũng đã khẳng định “Nhà nước
khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi
cho người tàn tật thực hiện các quyền bình
đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
và phát triển khả năng để ổn định cuộc
sống, hòa nhập cộng đồng và tham gia các
hoạt động xã hội” (Đàm Hữu Đắc, 2007,
tr.4-5). Nhằm đảm bảo quyền lợi và cơ hội
của người khuyết tật phù hợp với luật pháp
quốc tế, ngày 23-11-2007 Việt Nam đã ký
Công ước quốc tế về người khuyết tật
(Đàm Hữu Đắc, 2007, tr.5) và “các quốc
gia thành viên cam kết bảo đảm thúc đẩy
sự hiện thực hóa đầy đủ các quyền và tự do
cơ bản của toàn bộ những người khuyết tật
mà không có bất cứ sự phân biệt nào dựa
trên cơ sở khuyết tật” (Nguyễn Thị Báo
2011, tr.50). Năm 2010, Quốc hội đã thông
qua Luật người khuyết tật (Nguyễn Linh
Giang và cộng sự, 2014, tr.21; Nguyễn Thị
Báo, 2011, tr.149), trong đó có các quy
định khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi
để người khuyết tật thực hiện quyền bình
đẳng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,
thúc đẩy an sinh xã hội và thực hiện mục
tiêu Thiên niên kỷ (Nguyễn Linh Giang và
cộng sự, 2014, tr.21).
Những rào cản về điều kiện cơ sở vật
chất ngăn cản những người khiếm thị có
thể tiếp cận bình đẳng như giao thông công
cộng, các công sở, công trình phúc lợi,
trường học, bệnh viện.v.v. Xã hội cần xem
người khiếm thị như là một bộ phận cấu
thành không thể tách rời của xã hội, họ
cũng có trách nhiệm tham gia vào các hoạt
động của cộng đồng và đóng góp năng lực
vào sự phát triển, đồng thời có quyền được
hưởng đầy đủ những thành quả phát triển
của nhân loại vì “mục tiêu và động lực
chính của sự phát triển là vì con người, do
con người” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.74)
và “chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh
phúc con người là động lực to lớn phát huy
tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”
(Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.76).
Điều 26, Pháp lệnh về người khuyết tật
đã quy định: “Việc đầu tư xây dựng mới
hoặc cải tạo công trình nhà ở, các công
trình công cộng và thiết kế, chế tạo các
dụng cụ sinh hoạt, các phương tiện giao
thông liên lạc phải tính đến nhu cầu sử
dụng của người khuyết tật, trước hết là
người khuyết tật các dạng thị giác, đồng
thời phải tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn
xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành”. Ngày 10-7-1999, Chính
phủ ban hành nghị định số 55/1999/NĐ-
CP, quy định chi tiết thi hành một số điều
của Pháp lệnh về Người khuyết tật, trong
đó có quy định các bộ, ngành phải có kế
hoạch triển khai pháp lệnh trên. Thực hiện
Pháp lệnh về Người khuyết tật và nghị định
của Chính phủ, năm 2002, Bộ xây dựng đã
chính thức ban hành Hệ thống quy chuẩn,
tiêu chuẩn xây dựng (Đăng Doanh, 2008,
tr.8; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.19; Nguyễn
Trọng Đàm, 2009, tr.5). Đây là hệ thống
các văn bản pháp quy và hướng dẫn về kỹ
thuật đảm bảo việc thiết kế xây dựng mới
và cải tạo các công trình công cộng, đường
và hè phố cho người khuyết tật có thể tiếp
cận và sử dụng, đồng thời là cơ sở pháp lý
cho các cơ quan chức năng khi xem xét,
thẩm định cấp phép các dự án đầu tư xây
(Đàm Hữu Đắc, 2007, tr.5; Nguyễn Thị
Báo, 2011, tr.219). Ngày 1-7-2004, Luật
xây dựng cũng đã chính thức có hiệu lực
thi hành, trong đó tại Điều 52 ghi rõ: “Đối
với các công trình công cộng, phải đảm
bảo thiết kế theo tiêu chuẩn cho người
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 68 (02/2020)
80
khuyết tật”, hơn nữa “người khuyết tật chỉ
có cơ hội hòa nhập cộng đồng khi nhà
nước và xã hội tạo điều kiện cho người
khuyết tật có cơ hội tiếp cận và hưởng thụ
quyền được tiếp cận các công trình công
cộng” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.218).
Luật của Người khuyết tật năm 2010 đã
quy định về quyền được hưởng thụ các giá
trị văn hóa, tiếp cận các công trình công
cộng và hòa nhập cộng đồng (Nguyễn Linh
Giang và cộng sự, 2014, tr.21; Nguyễn Thị
Báo, 2011, tr.221). Theo điều 40, đến ngày
01-01-2020, các công trình công cộng phải
đảm bảo điều kiện tiếp cận đối với NKT
như trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước,
nhà ga, bến xe, bến tầu, cơ sở giáo dục dạy
nghề, công trình văn hóa thể dục thể thao
(Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.222). Đến ngày
01-01-2025, tất cả nhà chung cư, trụ sở làm
việc phải đảm bảo điều kiện tiếp cận đối
với người khuyết tật (Nguyễn Thị Báo,
2011, tr.223).
Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê
duyệt đề án Trợ giúp người khuyết tật giai
đoạn 2012-2020 nhằm đẩy mạnh chính
sách trợ giúp người khuyết tật (Nguyễn
Linh Giang và cộng sự, 2014, tr.21). Theo
đó, đề án đưa ra những chỉ tiêu cụ thể
nhằm thúc đẩy sự hòa nhập của người
khuyết tật trong các lĩnh vực y tế, giáo dục.
lao động, xây dựng, giao thông, công nghệ
thông tin, văn hóa, thể thao, pháp lý. Như
vậy, có thể thấy Việt Nam có lộ trình rõ
ràng để trở thành thành viên chính thức của
Công ước về Quyền của người khuyết tật.
Một trong những chính sách thúc đẩy
người khuyết tật tham gia hòa nhập cộng
đồng là nâng cao khả năng tiếp cận các
công trình công cộng (Bùi Hồng Lĩnh,
2009, tr. 4).
Để đảm bảo mọi hoạt động xây dựng
tuân thủ theo quy chuẩn xây dựng đã được
ban hành theo và thực hiện theo quy định
của Luật xây dựng, các cơ quan chức năng
phải thực hiện chặt chẽ khâu kiểm tra,
giám sát và thẩm định thiết kế cơ sở, thiết
kế kỹ thuật trong quá trình thực hiện các
dự án đầu tư xây dựng công trình công
cộng và các công trình giao thông, tạo điều
kiện cho người khuyết tật tiếp cận và sử
dụng dễ dàng (Nguyễn Thị Báo, 2011,
tr.219), đây là yêu cầu tất yếu trên tinh thần
“tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận người
khuyết tật như là một phần của sự đa dạng
nhân loại và nhân văn” (Nguyễn Thị Báo,
2011, tr.48), phát huy truyền thống tương
thân, tương ái đối với những người yếu thế
trong xã hội, đảm bảo rằng mọi cá nhân
đều có thể bình đẳng đóng góp năng lực
cho sự phát triển của cộng đồng.
Theo tài liệu (Bộ Xây dựng, 2004,
tr.5), các thể loại công trình sau phải đảm
bảo để người khuyết tật sử dụng:
- Các công trình y tế: bệnh viện, trung
tâm chỉnh hình và phục hồi chức năng,
các cơ sở khám chữa bệnh, trung tâm điều
dưỡng;
- Các cơ quan hành chính các cấp:
ủy ban hành chính các cấp, tòa án, viện
kiểm sát;
- Các công trình giáo dục: trường
học phổ thông các cấp, trường dạy nghề,
trường đại học, trường trung học và chuyên
nghiệp;
- Các công trình thể thao: sân vận
động, sân thể thao, nhà thi đấu thể thao;
- Các công trình văn hóa: công viên,
khu vui chơi giải trí, vườn thú, nhà hát, rạp
chiếu bóng, bảo tàng, triển lãm, nhà văn
hóa, câu lạc bộ, thư viện, các khu du lịch,
danh lam thắng cảnh;
- Các công trình dịch vụ công cộng:
NGUYỄN MINH KIÊN TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
81
khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, ga hàng
không, ga xe lửa, bến xe ô tô, bến cảng vận
chuyển hành khách, cửa hàng ăn uống, bưu
điện, trung tâm thương mại, chợ, siêu thị,
ngân hàng;
- Nhà ở chung cư;
- Đường và hè phố.v.v.
3. Thực trạng vấn đề tiếp cận không
gian công cộng của người khiếm thị tại
Việt Nam
Đặc thù lịch sử Việt Nam trải qua
nhiều cuộc chiến tranh, những di chứng
của chiến tranh để lại không hề nhỏ, nhiều
người khuyết tật là bệnh binh, thương
binh. Có nhiều nguyên nhân gây ra khuyết
tật như bẩm sinh (35,8%), bị bệnh (32,34
%), tai nạn lao động, tai nạn giao thông và
khuyết tật do hậu quả chiến tranh cũng
chiếm tới 25,65% (Bùi Hồng Lĩnh, 2007,
tr.3; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.31). Với
truyền thống uống nước nhớ nguôn, tạo
điều kiện để những người có công với đất
nước có thể hòa nhập bình đẳng trong xã
hội. Dự báo trong nhiều năm tới, số lượng
người khuyết tật nói chung, người khiếm
thị nói riêng chưa giảm do tác động của ô
nhiễm môi trường, tai nạn giao thông, tai
nạn lao động, hậu quả thiên tai.v.v. Ngoài
ra, Việt Nam là một trong những quốc gia
có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất ở châu
Á và đứng thứ bảy trên thế giới (Nguyễn
Linh Giang và cộng sự, 2014, tr.19). Số
lượng người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
là 7,5 triệu người, chiếm khoảng 8.7% dân
số cả nước (Nguyễn Linh Giang và cộng
sự, 2014, tr.19). Sự lão hóa dân số kéo
theo vấn đề suy giảm thị lực ở một bộ
phận dân cư.
Trong những năm gần đây, với chức
năng nhiệm vụ được giao, nhiều tổ chức,
cơ quan đã tiến hành một số cuộc điều tra,
khảo sát vấn đề người tàn tật. Tuy nhiên,
các cuộc điều tra với quy mô hạn hẹp chỉ
phục vụ cho mục đích thực hiện các nhiệm
vụ hoặc yêu cầu cụ thể của ngành hay địa
phương, đó là chưa kể sự thiếu nhất quán,
không rõ ràng ngay từ những khái niệm,
định nghĩa cho tới các tiêu chí phân loại,
tiêu chí đánh giá dẫn tới kết quả nhiều số
liệu còn thiếu hoặc trùng lặp, chưa phản
ánh đầy đủ về hiện trạng về vấn đề người
khuyết tật ở Việt Nam. Theo thống kê của
Viện mắt Trung ương, tỷ lệ người khiếm
thị năm 2015 là 1,8% dân số, tỷ lệ người
hơn 50 tuổi với thị lực kém tăng lên tới 2,1
triệu người (Nguyễn Xuân Hiệp, 2018).
Trong những năm gần đây, các tật khúc xạ
về mắt phổ biến trong thanh thiếu niên với
khoảng 15-20% học sinh ở nông thôn, 30-
40% học sinh ở thành phố (Nguyễn Xuân
Hiệp, 2018). Có thể thấy tỷ lệ về tật thị
giác ngày càng gia tăng sẽ gây trở ngại lớn
trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát
triển kinh tế - văn hóa - xã hội một cách
bền vững.
“Một trong các yếu tố cơ bản của quy
hoạch đô thị bền vững là tổ chức địa điểm
cho các cuộc gặp gỡ và tăng cường liên kết
cộng đồng, không gian đó được gọi là
không gian công cộng” (Lê Thị Bích
Thuận, 2016b). Công trình công cộng ngày
càng phát triển với nhiều loại hình, từ
những loại hình cơ bản ban đầu như đình
làng, chợ, đường phố, quảng trường tới các
loại hình không gian công cộng của xu
hướng đô thị hiện đại như nhà hát, nhà thi
đấu, công viên, trung tâm mua sắm, khu
vực đi dạo, vườn hoa.v.v. Sự thay đổi về
cấu trúc văn hóa và lối sống tạo nên các
hình thái mới về không gian công cộng,
phong phú và đa dạng hơn, nhằm đáp ứng
nhu cầu thiết yếu của xã hội. Để đảm bảo
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 68 (02/2020)
82
sự hài hòa trong không gian công trình
công cộng, cần hướng tới sự cân bằng lợi
ích, thiết lập những giá trị văn minh, mang
tí