Không gian công trình công cộng cho người khiếm thị tiếp cận – Nhìn từ góc độ pháp lý

TÓM TẮT Tại Việt Nam hiện nay, các công trình công cộng đang xây dựng và sử dụng hầu hết đều thiếu các phương tiện và trang thiết bị, cũng như các giải pháp thiết kế để người khiếm thị tiếp cận. Đây là rào cản hạn chế họ hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực và đóng góp cho xã hội. Bài nghiên cứu đặt ra một số vấn đề nhìn từ góc độ pháp lý về quyền tiếp cận công trình công cộng của người khiếm thị.

pdf11 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Không gian công trình công cộng cho người khiếm thị tiếp cận – Nhìn từ góc độ pháp lý, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN SAIGON UNIVERSITY TẠP CHÍ KHOA HỌC SCIENTIFIC JOURNAL ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY Số 68 (02/2020) No. 68 (02/2020) Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: 76 KHÔNG GIAN CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG CHO NGƯỜI KHIẾM THỊ TIẾP CẬN – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LÝ Space of public works for visually impaired people – View from legal perspective ThS. Nguyễn Minh Kiên Trường Đại học FPT TÓM TẮT Tại Việt Nam hiện nay, các công trình công cộng đang xây dựng và sử dụng hầu hết đều thiếu các phương tiện và trang thiết bị, cũng như các giải pháp thiết kế để người khiếm thị tiếp cận. Đây là rào cản hạn chế họ hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực và đóng góp cho xã hội. Bài nghiên cứu đặt ra một số vấn đề nhìn từ góc độ pháp lý về quyền tiếp cận công trình công cộng của người khiếm thị. Từ khóa: công trình công cộng, không gian, người khiếm thị, pháp lý ABSTRACT Nowadays in Vietnam, public works which have been constructed and used mostly lack facilities and equipment, as well as design solutions for visually impaired people to access. This is a barrier that restrains visually impaired people to integrate into the community, promote their capacities and contribute to the society. The research raises several issues from legal perspective on the right of access to public works of the visually impaired people. Keywords: public works, space, visually impaired people, legal 1. Đặt vấn đề Hiện nay, người khuyết tật nói chung, người khiếm thị nói riêng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các công trình công cộng, thậm chí đó là những công trình đặc biệt như các trung tâm người khuyết tật, văn phòng hội người khuyết tật, trường học cho người khuyết tật. Có rất nhiều rào cản cản trở họ tham gia bình đẳng như những người khác trong cuộc sống, hầu hết những rào cản này lại do xã hội dựng nên. Người khuyết tật mặc dù gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, hòa nhập cuộc sống nhưng họ cũng có những ước mơ, hy vọng và những ý tưởng muốn chia sẻ với cộng đồng. Mỗi người đều là một phần của xã hội và đều có thể cống hiến cho xã hội khả năng độc đáo của riêng mình. Abraham Harold Maslow, giáo sư tâm lý học người Mỹ đưa ra năm nhu cầu cơ bản của con người: - Nhu cầu sinh lý cơ bản - Nhu cầu an toàn - Nhu cầu về quan hệ xã hội - Nhu cầu được kính nể, ngưỡng mộ - Nhu cầu được phát huy bản ngã, thành đạt.v.v. (Nguyễn Quang Uẩn, 2010, tr.12). Email: KienNM2@fe.edu.vn NGUYỄN MINH KIÊN TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN 77 Mỗi người đều có sự khác biệt, từ vẻ bề ngoài tới những ý tưởng, suy nghĩ, trải nghiệm, cách sống và khả năng. Sự khác biệt, độc đáo trong mỗi người là tài sản vô giá mà chúng ta cần trân trọng và chia sẻ. Sự khác biệt tạo ra những cơ hội mới, hy vọng mới, ước mơ mới và cả sự nhân ái trong cộng đồng. Cộng đồng cần quan tâm tới ước vọng cá nhân giúp cho con người tìm được bản ngã đích thực của mình để sống một cách thoải mái, cởi mở, hồn nhiên và sáng tạo, “bản chất con người vốn tốt đẹp, con người có lòng vị tha, có tiềm năng kỳ diệu” (Nguyễn Quang Uẩn, 2010, tr.12) và “con người ta phải đối xử với nhau một cách tế nhị, cởi mở, biết lắng nghe và chờ đợi, cảm thông với nhau” (Nguyễn Quang Uẩn, 2010, tr.13). Quan tâm tới người khiếm thị là một phần của sự phát triển vì “chất lượng của một xã hội, xét cho cùng, được đánh giá bằng cách đối xử với những người dân yếu thế nhất trong xã hội” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.96). 2. Quyền được tiếp cận các công trình công cộng của người khiếm thị “Lịch sử loài người đã chứng minh rằng, về mặt cơ thể học, xã hội bao giờ cũng gồm hai nhóm người: người lành lặn và người khuyết tật. Người khuyết tật là một bộ phận dân cư, là nhóm người dễ bị tổn thương, tồn tại khách quan trong xã hội loài người” (Nguyễn Thị Báo, 2010, tr.5). Người khuyết tật có ở các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tôn trọng và đảm bảo quyền của người khuyết tật không chỉ là vấn đề mang ý nghĩa nhân đạo, từ thiện mà còn là vấn đề mang ý nghĩa kinh tế, xã hội và pháp lý (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.5). Quyền của người khuyết tật đã trở thành một định chế pháp lý quan trọng trong luật quốc tế hiện đại. Đảm bảo quyền của người khuyết tật là nghĩa vụ và lương tri của nhân loại tiến bộ bởi vì “tất cả các quyền con người và tự do cơ bản mang tính phổ cập cho tất cả mọi người và do đó, cho cả những người khuyết tật. Mọi người sinh ra đều bình đẳng và đều có quyền sống và phúc lợi, quyền được giáo dục và có việc làm, quyền sống một cách độc lập và được tham gia tích cực vào mọi mặt đời sống xã hội. Bất kỳ một sự phân biệt trực tiếp hoặc phân biệt đối xử tiêu cực khác đối với người khuyết tật đều vi phạm các quyền con người” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu quyền con người, 1998, tr.126) và “ người khuyết tật cần được đảm bảo cơ hội đồng đều thông qua việc xóa bỏ tất cả các trở ngại, định kiến xã hội về mặt thể chất, tài chính, xã hội hoặc tâm lý mà đã loại trừ hoặc hạn chế sự tham gia hoàn toàn của họ vào đời sống xã hội” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu quyền con người, 1998, tr.127). Các quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng hóa các cơ hội cho người khuyết tật được Đại hội đồng liên hợp quốc thông qua ngày 20-12- 1993 (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.4; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.16, tr.95, tr.97) là văn bản ra đời từ kết quả của thập kỷ về người khuyết tật. Công ước Quốc tế về người khuyết tật được Liên Hợp quốc thông qua ngày 13-12-2006 đã tiếp cận khái niệm khuyết tật và người khuyết tật một cách toàn diện dưới góc độ quyền con người (Đàm Hữu Đắc, 2007, tr.4; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.7, tr.95), công ước khẳng định: “Tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận người khuyết tật như là một bộ phận và sự đa dạng của con người và của nhân loại” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.17). Công ước “thừa nhận rằng khuyết tật là một khái SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 68 (02/2020) 78 niệm ngày càng phát triển và rằng khuyết tật là kết quả của việc tương tác giữa những người bị khiếm khuyết và những rào cản môi tường và thái độ làm mất đi sự tham gia hiệu quả và đầy đủ của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác” và “những người khuyết tật là những người có sự khiếm khuyết suốt đời cả về thể chất, tinh thần, trí tuệ mà những khiếm khuyết này tạo ra rào cản có thể hạn chế khả năng tham gia đầy đủ và hiệu quả vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Các quốc gia tham gia Công ước phải đảm bảo quyền được thụ hưởng bình đẳng mọi dịch vụ công cộng của người khuyết tật. Công ước quốc tế về các quyền của người khuyết tật được xây dựng dựa trên khuôn khổ tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền, có hiệu lực ngày 3-5-2008 và lần đầu tiên Công ước đã thiết lập quyền của tất cả người khuyết tật trên toàn thế giới. Đây là Hiệp ước đầu tiên mang lại vị thế và quyền hợp pháp nhìn nhận tình trạng khuyết tật như là một vấn đề về quyền con người. Công ước còn có ý nghĩa đặc biệt khi thay đổi cách nhìn đối với tình trạng khuyết tật là một vấn đề xã hội chứ không phải là vấn đề y tế và xác lập sự dịch chuyển từ phương thức tiếp cận theo hướng nhân đạo sang hướng nhân quyền. Ngoài ra, còn có tuyên bố Melen Kellee về quyền của những người mù, điếc năm 1977 (Nguyễn Thị Báo, 2007, tr.7), tuyên bố về sự tham gia đầy đủ và bình đẳng của người khuyết tật ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 1993 (Nguyễn Thị Báo, 2007, tr.7). Thập kỷ người khuyết tật khu vực châu Á – Thái Bình Dương lần thứ hai từ năm 2003 – 2012, khuôn khổ hành động thiên niên kỷ Biwako hướng tới một xã hội hòa nhập và không rào cản trong đó có lĩnh vực tiếp cận các môi trường xây dựng và giao thông công cộng (Bùi Sỹ Lợi, 2009, tr.6; Nguyễn Thị Báo, 2007, tr.8). Vấn đề quyền của người khuyết tật nói chung, người khiếm thị nói riêng, không còn là mối quan tâm của một quốc gia mà đã trở thành mối quan tâm của cả cộng đồng quốc tế. Năm 1981, Liên Hợp quốc đã phát động “Năm quốc tế về người khuyết tật” thông qua Chương trình hành động vì người khuyết tật năm 1982 nhằm đạt tới một xã hội công bằng cho tất cả mọi người (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.5). Theo tài liệu của Liên Hợp quốc, trên thế giới có khoảng 700 triệu người khuyết tật, trong đó có 200 triệu là trẻ em (Nguyễn Thị Kim Anh và cộng sự, 2007, tr.15). Như vậy có khoảng 10% dân số ở bất kỳ các quốc gia là người khuyết tật. Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 cũng đều khẳng định người khuyết tật là công dân, là thành viên của xã hội, có quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân, được chung hưởng thành quả xã hội (Nguyễn Thị Báo, 2005, tr.3; Bùi Hồng Lĩnh, 2009, tr.3). Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: tàn nhưng không phế, câu nói đó khái quát và phản ánh rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn tôn trọng quyền, tự do, phẩm giá và năng lực của người khuyết tật. Người khuyết tật tuy là nhóm người đặc biệt, dễ bị tổn thương cần được xã hội quan tâm, nhưng họ vẫn có những quyền cơ bản và bình đẳng như những người khác (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.8). Người khuyết tật cần xã hội quan tâm giúp đỡ không chỉ để tồn tại mà họ có quyền yêu cầu xã hội tạo cơ hội bình đẳng để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, khẳng định vị trí và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội (Nguyễn Thị Báo, 2011, NGUYỄN MINH KIÊN TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN 79 tr.12). Pháp lệnh về người khuyết tật năm 1989 cũng đã khẳng định “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho người tàn tật thực hiện các quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phát triển khả năng để ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng và tham gia các hoạt động xã hội” (Đàm Hữu Đắc, 2007, tr.4-5). Nhằm đảm bảo quyền lợi và cơ hội của người khuyết tật phù hợp với luật pháp quốc tế, ngày 23-11-2007 Việt Nam đã ký Công ước quốc tế về người khuyết tật (Đàm Hữu Đắc, 2007, tr.5) và “các quốc gia thành viên cam kết bảo đảm thúc đẩy sự hiện thực hóa đầy đủ các quyền và tự do cơ bản của toàn bộ những người khuyết tật mà không có bất cứ sự phân biệt nào dựa trên cơ sở khuyết tật” (Nguyễn Thị Báo 2011, tr.50). Năm 2010, Quốc hội đã thông qua Luật người khuyết tật (Nguyễn Linh Giang và cộng sự, 2014, tr.21; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.149), trong đó có các quy định khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, thúc đẩy an sinh xã hội và thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ (Nguyễn Linh Giang và cộng sự, 2014, tr.21). Những rào cản về điều kiện cơ sở vật chất ngăn cản những người khiếm thị có thể tiếp cận bình đẳng như giao thông công cộng, các công sở, công trình phúc lợi, trường học, bệnh viện.v.v. Xã hội cần xem người khiếm thị như là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của xã hội, họ cũng có trách nhiệm tham gia vào các hoạt động của cộng đồng và đóng góp năng lực vào sự phát triển, đồng thời có quyền được hưởng đầy đủ những thành quả phát triển của nhân loại vì “mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.74) và “chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.76). Điều 26, Pháp lệnh về người khuyết tật đã quy định: “Việc đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo công trình nhà ở, các công trình công cộng và thiết kế, chế tạo các dụng cụ sinh hoạt, các phương tiện giao thông liên lạc phải tính đến nhu cầu sử dụng của người khuyết tật, trước hết là người khuyết tật các dạng thị giác, đồng thời phải tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành”. Ngày 10-7-1999, Chính phủ ban hành nghị định số 55/1999/NĐ- CP, quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh về Người khuyết tật, trong đó có quy định các bộ, ngành phải có kế hoạch triển khai pháp lệnh trên. Thực hiện Pháp lệnh về Người khuyết tật và nghị định của Chính phủ, năm 2002, Bộ xây dựng đã chính thức ban hành Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng (Đăng Doanh, 2008, tr.8; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.19; Nguyễn Trọng Đàm, 2009, tr.5). Đây là hệ thống các văn bản pháp quy và hướng dẫn về kỹ thuật đảm bảo việc thiết kế xây dựng mới và cải tạo các công trình công cộng, đường và hè phố cho người khuyết tật có thể tiếp cận và sử dụng, đồng thời là cơ sở pháp lý cho các cơ quan chức năng khi xem xét, thẩm định cấp phép các dự án đầu tư xây (Đàm Hữu Đắc, 2007, tr.5; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.219). Ngày 1-7-2004, Luật xây dựng cũng đã chính thức có hiệu lực thi hành, trong đó tại Điều 52 ghi rõ: “Đối với các công trình công cộng, phải đảm bảo thiết kế theo tiêu chuẩn cho người SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 68 (02/2020) 80 khuyết tật”, hơn nữa “người khuyết tật chỉ có cơ hội hòa nhập cộng đồng khi nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho người khuyết tật có cơ hội tiếp cận và hưởng thụ quyền được tiếp cận các công trình công cộng” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.218). Luật của Người khuyết tật năm 2010 đã quy định về quyền được hưởng thụ các giá trị văn hóa, tiếp cận các công trình công cộng và hòa nhập cộng đồng (Nguyễn Linh Giang và cộng sự, 2014, tr.21; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.221). Theo điều 40, đến ngày 01-01-2020, các công trình công cộng phải đảm bảo điều kiện tiếp cận đối với NKT như trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước, nhà ga, bến xe, bến tầu, cơ sở giáo dục dạy nghề, công trình văn hóa thể dục thể thao (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.222). Đến ngày 01-01-2025, tất cả nhà chung cư, trụ sở làm việc phải đảm bảo điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.223). Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án Trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020 nhằm đẩy mạnh chính sách trợ giúp người khuyết tật (Nguyễn Linh Giang và cộng sự, 2014, tr.21). Theo đó, đề án đưa ra những chỉ tiêu cụ thể nhằm thúc đẩy sự hòa nhập của người khuyết tật trong các lĩnh vực y tế, giáo dục. lao động, xây dựng, giao thông, công nghệ thông tin, văn hóa, thể thao, pháp lý. Như vậy, có thể thấy Việt Nam có lộ trình rõ ràng để trở thành thành viên chính thức của Công ước về Quyền của người khuyết tật. Một trong những chính sách thúc đẩy người khuyết tật tham gia hòa nhập cộng đồng là nâng cao khả năng tiếp cận các công trình công cộng (Bùi Hồng Lĩnh, 2009, tr. 4). Để đảm bảo mọi hoạt động xây dựng tuân thủ theo quy chuẩn xây dựng đã được ban hành theo và thực hiện theo quy định của Luật xây dựng, các cơ quan chức năng phải thực hiện chặt chẽ khâu kiểm tra, giám sát và thẩm định thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng công trình công cộng và các công trình giao thông, tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận và sử dụng dễ dàng (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.219), đây là yêu cầu tất yếu trên tinh thần “tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận người khuyết tật như là một phần của sự đa dạng nhân loại và nhân văn” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.48), phát huy truyền thống tương thân, tương ái đối với những người yếu thế trong xã hội, đảm bảo rằng mọi cá nhân đều có thể bình đẳng đóng góp năng lực cho sự phát triển của cộng đồng. Theo tài liệu (Bộ Xây dựng, 2004, tr.5), các thể loại công trình sau phải đảm bảo để người khuyết tật sử dụng: - Các công trình y tế: bệnh viện, trung tâm chỉnh hình và phục hồi chức năng, các cơ sở khám chữa bệnh, trung tâm điều dưỡng; - Các cơ quan hành chính các cấp: ủy ban hành chính các cấp, tòa án, viện kiểm sát; - Các công trình giáo dục: trường học phổ thông các cấp, trường dạy nghề, trường đại học, trường trung học và chuyên nghiệp; - Các công trình thể thao: sân vận động, sân thể thao, nhà thi đấu thể thao; - Các công trình văn hóa: công viên, khu vui chơi giải trí, vườn thú, nhà hát, rạp chiếu bóng, bảo tàng, triển lãm, nhà văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, các khu du lịch, danh lam thắng cảnh; - Các công trình dịch vụ công cộng: NGUYỄN MINH KIÊN TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN 81 khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, ga hàng không, ga xe lửa, bến xe ô tô, bến cảng vận chuyển hành khách, cửa hàng ăn uống, bưu điện, trung tâm thương mại, chợ, siêu thị, ngân hàng; - Nhà ở chung cư; - Đường và hè phố.v.v. 3. Thực trạng vấn đề tiếp cận không gian công cộng của người khiếm thị tại Việt Nam Đặc thù lịch sử Việt Nam trải qua nhiều cuộc chiến tranh, những di chứng của chiến tranh để lại không hề nhỏ, nhiều người khuyết tật là bệnh binh, thương binh. Có nhiều nguyên nhân gây ra khuyết tật như bẩm sinh (35,8%), bị bệnh (32,34 %), tai nạn lao động, tai nạn giao thông và khuyết tật do hậu quả chiến tranh cũng chiếm tới 25,65% (Bùi Hồng Lĩnh, 2007, tr.3; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.31). Với truyền thống uống nước nhớ nguôn, tạo điều kiện để những người có công với đất nước có thể hòa nhập bình đẳng trong xã hội. Dự báo trong nhiều năm tới, số lượng người khuyết tật nói chung, người khiếm thị nói riêng chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông, tai nạn lao động, hậu quả thiên tai.v.v. Ngoài ra, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất ở châu Á và đứng thứ bảy trên thế giới (Nguyễn Linh Giang và cộng sự, 2014, tr.19). Số lượng người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay là 7,5 triệu người, chiếm khoảng 8.7% dân số cả nước (Nguyễn Linh Giang và cộng sự, 2014, tr.19). Sự lão hóa dân số kéo theo vấn đề suy giảm thị lực ở một bộ phận dân cư. Trong những năm gần đây, với chức năng nhiệm vụ được giao, nhiều tổ chức, cơ quan đã tiến hành một số cuộc điều tra, khảo sát vấn đề người tàn tật. Tuy nhiên, các cuộc điều tra với quy mô hạn hẹp chỉ phục vụ cho mục đích thực hiện các nhiệm vụ hoặc yêu cầu cụ thể của ngành hay địa phương, đó là chưa kể sự thiếu nhất quán, không rõ ràng ngay từ những khái niệm, định nghĩa cho tới các tiêu chí phân loại, tiêu chí đánh giá dẫn tới kết quả nhiều số liệu còn thiếu hoặc trùng lặp, chưa phản ánh đầy đủ về hiện trạng về vấn đề người khuyết tật ở Việt Nam. Theo thống kê của Viện mắt Trung ương, tỷ lệ người khiếm thị năm 2015 là 1,8% dân số, tỷ lệ người hơn 50 tuổi với thị lực kém tăng lên tới 2,1 triệu người (Nguyễn Xuân Hiệp, 2018). Trong những năm gần đây, các tật khúc xạ về mắt phổ biến trong thanh thiếu niên với khoảng 15-20% học sinh ở nông thôn, 30- 40% học sinh ở thành phố (Nguyễn Xuân Hiệp, 2018). Có thể thấy tỷ lệ về tật thị giác ngày càng gia tăng sẽ gây trở ngại lớn trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội một cách bền vững. “Một trong các yếu tố cơ bản của quy hoạch đô thị bền vững là tổ chức địa điểm cho các cuộc gặp gỡ và tăng cường liên kết cộng đồng, không gian đó được gọi là không gian công cộng” (Lê Thị Bích Thuận, 2016b). Công trình công cộng ngày càng phát triển với nhiều loại hình, từ những loại hình cơ bản ban đầu như đình làng, chợ, đường phố, quảng trường tới các loại hình không gian công cộng của xu hướng đô thị hiện đại như nhà hát, nhà thi đấu, công viên, trung tâm mua sắm, khu vực đi dạo, vườn hoa.v.v. Sự thay đổi về cấu trúc văn hóa và lối sống tạo nên các hình thái mới về không gian công cộng, phong phú và đa dạng hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội. Để đảm bảo SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 68 (02/2020) 82 sự hài hòa trong không gian công trình công cộng, cần hướng tới sự cân bằng lợi ích, thiết lập những giá trị văn minh, mang tí