Một số quan điểm phê phán nền giáo dục truyền thống của John Dewey và định hướng vận dụng trong cải cách giáo dục Việt Nam hiện nay

Tóm tắt. Giáo dục và đào tạo của một quốc gia là chỉ số quan trọng nói lên trình độ phát triển của con người và mức độ chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự phát triển bền vững của đất nước. Phát triển giáo dục luôn là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện phát huy nguồn nhân lực con người, yếu tố cơ bản cho sự phát triển của xã hội, sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Bài viết tập trung làm rõ sự phê phán của John Dewey đối với nền giáo dục truyền thống thể hiện ở một số nội dung sau: (1) Nội dung nền giáo dục truyền thống được xem là bất biến và việc truyền tải được thực hiện một cách nguyên xi, máy móc; (2) Nền giáo dục truyền thống mang tính áp đặt; (3) Trong nền giáo dục truyền thống, trẻ em là người học thụ động và phải tuân theo những chuẩn mực đạo đức của người lớn; (4) Nền giáo dục truyền thống xem trọng nội dung của chương trình học, chưa xem người học giữ vai trò trung tâm; (5) Nền giáo dục truyền thống xem người thầy giữ vai trò quyền uy, người phân phát nội dung kiến thức cho người học. Để đánh giá sự phê phán của John Dewey với nền giáo dục truyền thống, tác giả đã tập trung nghiên cứu các tác phẩm của ông về vấn đề giáo dục. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số giải pháp đối với công cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng của John Dewey.

pdf13 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 60 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số quan điểm phê phán nền giáo dục truyền thống của John Dewey và định hướng vận dụng trong cải cách giáo dục Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
242 HNUE JOURNAL OF SCIENCE DOI: 10.18173/2354-1075.2019-0045 Educational Sciences, 2020, Volume 65, Issue 4C, pp. 242-254 This paper is available online at MỘT SỐ QUAN ĐIỂM PHÊ PHÁN NỀN GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CỦA JOHN DEWEY VÀ ĐỊNH HƯỚNG VẬN DỤNG TRONG CẢI CÁCH GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY Đoàn Văn Re Khoa Lí luận Chính trị, Trường Đại học Tiền Giang Tóm tắt. Giáo dục và đào tạo của một quốc gia là chỉ số quan trọng nói lên trình độ phát triển của con người và mức độ chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự phát triển bền vững của đất nước. Phát triển giáo dục luôn là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện phát huy nguồn nhân lực con người, yếu tố cơ bản cho sự phát triển của xã hội, sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Bài viết tập trung làm rõ sự phê phán của John Dewey đối với nền giáo dục truyền thống thể hiện ở một số nội dung sau: (1) Nội dung nền giáo dục truyền thống được xem là bất biến và việc truyền tải được thực hiện một cách nguyên xi, máy móc; (2) Nền giáo dục truyền thống mang tính áp đặt; (3) Trong nền giáo dục truyền thống, trẻ em là người học thụ động và phải tuân theo những chuẩn mực đạo đức của người lớn; (4) Nền giáo dục truyền thống xem trọng nội dung của chương trình học, chưa xem người học giữ vai trò trung tâm; (5) Nền giáo dục truyền thống xem người thầy giữ vai trò quyền uy, người phân phát nội dung kiến thức cho người học. Để đánh giá sự phê phán của John Dewey với nền giáo dục truyền thống, tác giả đã tập trung nghiên cứu các tác phẩm của ông về vấn đề giáo dục. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số giải pháp đối với công cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng của John Dewey. Từ khóa: giáo dục truyền thống, cải cách giáo dục, quan điểm phê phán, John Dewey. 1. Mở đầu Không chỉ riêng Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới đều xem giáo dục và đào tạo giữ một vị trí, vai trò quan trọng. Sinh thời, Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [1, tr.8]. Từ hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đến nay, Đảng ta luôn coi “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, là động lực, đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội” [2]. Qua 75 năm kể từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 và nhất là sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, so với các nước trên thế giới, nền giáo dục Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập từ mục tiêu, phương pháp, chương trình đến cách thức tổ chức quản lí giáo dục, v.v... thậm chí lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực, mà “nguyên nhân sâu xa của những bất cập này ở chỗ Ngày nhận bài: 10/2/2020. Ngày sửa bài: 11/3/2020. Ngày nhận đăng: 18/3/2020. Tác giả liên hệ: Đoàn Văn Re. Địa chỉ e-mail: dvanre@gmail.com Một số quan điểm phê phán nền giáo dục truyền thống của John Dewey và định hướng... 243 nền giáo dục Việt Nam theo lối mòn của nền giáo dục Xô Viết đã bị từ bỏ, đặc trưng của nó là mô hình giáo dục truyền thống mà John Dewey đã phê phán gay gắt và đa số các nước có nền giáo dục tiên tiến đã vượt qua” [3, tr.100]. Thật vậy, mặc dù đã liên tục cố gắng và đạt được một số thành tựu nhất định, đổi mới nền giáo dục Việt Nam thời gian qua vẫn thực sự chưa mang tính hệ thống và căn bản. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước cần phải tiến hành một cuộc “cách mạng” từ tư tưởng đến hành động trong ngành giáo dục, phải triệt để thay đổi gốc rễ của nó. Triết lí giáo dục dân chủ, thực dụng John Dewey thực sự đã tạo ra sự bùng nổ trong lĩnh vực giáo dục của nước Mĩ và châu Âu thế kỉ XX [4]. Chúng đã được vận dụng thành công ở các nước có nền giáo dục đạt trình độ tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Phần Lan, Nhật, Hàn Quốc, Singapore, Triết lí này chú trọng phát triển con người với phương châm nhân bản, dân chủ và hiệu quả. Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1941, Vũ Đình Hoè (chủ nhiệm tạp chí Văn chương, chính trị và kinh tế Thanh Nghị, sau này là Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục từ ngày 28/8/1945 đến ngày 2/3/1946) trong bài “Giáo dục thanh niên và nền sơ học ở nước ngoài” có những đánh giá về ưu và hạn chế nền giáo dục của các nước [5]. Khi đề cập đến nền giáo dục Mỹ, ông đã đề cập đến phương pháp dạy học mới, một lối dạy học theo cá tính, thường áp dụng ở các trường công của Mỹ là phương pháp của John Dewey. Mục đích của phương pháp này không phải “để dạy nghề mà để mở mang trí thức về thực tế và công việc trong xã hội”; “Theo lối dạy ấy, trẻ con trong lúc học cảm thấy đã làm những công việc có ích và để hết tâm hồn vào đấy. Sự chung đụng với cuộc đời lại còn làm cho chúng yêu quý trường học và cảm thấy yêu thích trong sự học”. Có thể nói, những nguyên lí giáo dục của John Dewey hiện nay vẫn như ngọn cờ dẫn đường cho giáo dục ở Hoa Kỳ - nền giáo dục phát triển hàng đầu trên thế giới. Do vậy, việc nghiên cứu, tiếp thu một cách có chọn lọc những nguyên lí giáo dục của ông là cần thiết. 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Một số quan điểm phê phán của John Dewey đối với nền giáo dục truyền thống Ngay từ thế kỉ IV TCN, Platon là người đầu tiên chủ tâm giảng giải cho nhân loại biết thế nào là giáo dục: Một xã hội ổn định khi mỗi cá nhân làm công việc phù hợp với những năng khiếu tự nhiên theo cách anh ta có ích cho những người khác và nhiệm vụ của nền giáo dục là phát triển những năng khiếu tự nhiên này và huấn luyện chúng dần dần cho mục đích xã hội. Đến giữa thế kỉ XVIII, J.J.Rútxô đã đưa ra ý tưởng mới mang tính cách mạng: Con người sinh ra là thiện, mọi xã hội đều có xu hướng làm hỏng cái thiện có sẵn ấy trong con người; và vì vậy sứ mạng chủ yếu của giáo dục là làm cho cái bản tính tốt đẹp tự nhiên của con người được duy trì và phát triển, chứ không phải là đào tạo con người theo lợi ích của xã hội. Muộn hơn một chút, vào cuối thế kỉ XVIII, I.Kant lại có một cách nhìn nhận khác hẳn: Nhân loại bắt đầu lịch sử của mình trong tình trạng bị tự nhiên khống chế - chứ không phải với tư cách con người là một sinh vật có lí trí, trong khi đó tự nhiên chỉ cung cấp bản năng và lòng ham muốn. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, cùng với sự xuất hiện trào lưu thực dụng luận (Pragmatism) trào lưu tân giáo dục đã ra đời ở Mỹ mà người khởi xướng là John Dewey. Ở thời đại của John Dewey, cứu cánh của giáo dục có lẽ không khác mấy so với một thế kỉ trước: Hoàn thiện con người và phục vụ xã hội. Các nguyên lí cơ bản về phương châm, phương pháp giáo dục của John Dewey thực sự đã làm nên một cuộc cách mạng mới trong giáo dục. Tư tưởng triết lí giáo dục của John Dewey làm thay đổi nền giáo dục nước Mỹ thế kỉ XX, tư tưởng của ông cũng ảnh hưởng đến nền giáo dục nhiều nước trên thế giới. Ở châu Á, từ năm 1919, John Dewey đã được mời đến thực hiện một loạt bài giảng tại trường Đại học Hoàng Gia- Tokyo, và ngay sau đó ông được mời đến giảng dạy về triết học và giáo dục tại Bắc Kinh và Nam Kinh (Trung Quốc). Như vậy, cách đây nửa thế kỉ, triết học giáo dục của J. Dewey đã Đoàn Văn Re 244 thâm nhập vào Nhật Bản và Trung Quốc. Tại Việt Nam, năm 1940, Vũ Đình Hòe đã giới thiệu John Dewey trên báo Thanh Nghị. Thông qua nghiên cứu một số tác phẩm của John Dewey, chúng tôi nhận thấy một số quan điểm phê phán nền giáo dục truyền thống như sau: Thứ nhất, nội dung nền giáo dục truyền thống được xem là bất biến và việc truyền tải được thực hiện một cách nguyên xi, máy móc Trong lĩnh vực giáo dục, John Dewey xây dựng một lí thuyết mới và thể nghiệm nó bằng thực nghiệm. Ông đã thông qua sự xem xét tổng thể và nghiên cứu của mình để đi đến quan điểm về giáo dục khác với những quan điểm trước đó. Dewey chỉ ra rằng, trong nền giáo dục truyền thống, nội dung giảng dạy bao gồm những chủ đề hoặc các môn học, chúng có xuất xứ từ “quá khứ”, là một tập hợp gồm nhiều dữ kiện, khái niệm, mệnh đề và lí thuyết được tổ chức một cách hợp lôgíc, và được sắp xếp theo một trình tự phức tạp dần trong một bộ sách giáo khoa. Mỗi môn học được coi là riêng biệt và người ta có khuynh hướng coi chủ đề, được tổ chức theo cách truyền thống như là bất khả xâm phạm: “Nội dung của giáo dục gồm rất nhiều kiến thức và kĩ năng đã được phát triển trong quá khứ; vì thế nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường là truyền dạy chúng cho thế hệ sau” [6, tr.33], “mục đích hoặc mục tiêu chính của nhà trường là chuẩn bị cho trẻ những trách nhiệm tương lai và cho sự thành đạt trong cuộc đời, để làm điều ấy học sinh phải học rất nhiều kiến thức được tổ chức sẵn và những hình thái kĩ năng được chuẩn bị sẵn, tức tất cả những gì bao hàm vật liệu của dạy học” [6, tr.34]. Như vậy, nội dung của nền giáo dục truyền thống được đóng trong một “bộ khung” và trong trạng thái “tĩnh”, bất biến. Theo John Dewey, nội dung giáo dục “bao gồm các sự kiện được quan sát thấy, hồi tưởng, đọc, được bàn tới, và những ý niệm được gợi ý trong quá trình diễn biến của một tình huống có mục đích” [7, tr.217]. Tức nội dung giáo dục là cái mà ta thu được trong diễn biến của một tình huống có mục đích cụ thể. Nội dung giáo dục theo ông phải là một khái niệm “động”, được mô tả như là những điều mà người học thực sự dùng đến khi hành động trong một tình huống có mục đích. Thay vì sử dụng chủ đề theo cách giúp người học học bằng cách tổ chức lại nó, theo Dewey thì nền giáo dục truyền thống lại tìm cách “truyền” dạy chủ đề dưới hình thức nguyên vẹn, những sự kiện “đã chết” hoặc bằng phương pháp kỉ luật mạnh mẽ hay bằng cách “bọc đường cho viên thuốc đắng để nó trở nên ngon lành hơn”. Trên cơ sở đó, Dewey đưa ra nội dung giáo dục kết hợp lí thuyết và thực hành. Bởi vì, việc dạy kiến thức lí thuyết ở các môn học cụ thể như là những lát cắt lịch đại của tri thức loài người sẽ chỉ làm mất đi sự linh hoạt của tư duy và sự đa dạng của những năng lực tiềm tàng của trẻ em. Ẩn sâu trong tư tưởng giáo dục mới ấy là những suy tư của bản thân triết gia về thế giới và con người, về tự nhiên và xã hội, về cộng đồng và cá nhân. Bên cạnh đó, John Dewey còn cho rằng nội dung giáo dục không chỉ đơn thuần là cung cấp cho người học kiến thức, mà còn là kĩ năng cho người học. Người thầy nên quan tâm tới mối quan hệ tương giao giữa nội dung và các nhu cầu và năng khiếu hiện có của học sinh. Theo đó, nội dung giáo dục phải đảm bảo tính cơ bản toàn diện, thiết thực và có hệ thống. Muốn chuẩn bị một thế hệ tương lai tốt thì việc giáo dục phải thật sự có chất lượng. Ông cho rằng nội dung giáo dục toàn diện sẽ giúp người học tự rèn luyện mình. Từ việc đề cao nhu cầu, lợi ích của người học, ông không đi theo xu hướng truyền thống thiết kế chương trình giảng dạy lấy lôgíc nội dung môn học làm trung tâm mà thiết kế chương trình học tập phải trong mối liên hệ với chính bản thân người học. Nói cách khác, chương trình học của nhà trường phải tính đến việc làm cho các môn học phù hợp với các nhu cầu của đời sống cộng đồng hiện hữu. Thứ hai, nền giáo dục truyền thống mang tính áp đặt John Dewey đi từ việc phê phán một số lí luận coi giáo dục chỉ đơn thuần là sự chuẩn bị cho cuộc sống, hay giáo dục là sự đào tạo từ bên ngoài, hoặc là quá trình huấn luyện các khả năng trú ngụ trong bản thân trí óc để đi đến khẳng định giáo dục là quá trình kiến tạo lại kinh Một số quan điểm phê phán nền giáo dục truyền thống của John Dewey và định hướng... 245 nghiệm chứ không phải mang tính áp đặt. Giáo dục giúp tăng trưởng kinh nghiệm đồng nghĩa với việc giáo dục giúp lượng kinh nghiệm tăng lên, biến đổi đặc tính kinh nghiệm theo từng giai đoạn cụ thể của đời người để làm kinh nghiệm phong phú hơn. Theo Dewey, “kiểu giáo dục truyền thống về bản chất là sự áp đặt từ bên trên và từ bên ngoài. Nó áp đặt những chuẩn mực, nội dung và phương pháp của người lớn cho những người chỉ mới đang trưởng thành dần dần” [6, tr.35]. Chính sự áp đặt này làm cho giữa nền giáo dục và trẻ em có một khoảng cách nhất định và nằm ngoài tầm với của các em: “Hố cách biệt lớn đến nỗi nội dung, phương pháp học và phương pháp ứng xử mà nhà trường ấy đòi hỏi thảy điều xa lạ với những khả năng hiện hữu của trẻ em. Chúng nằm ngoài phạm vi kinh nghiệm vốn có ở người học nhỏ tuổi” [6, tr.35]. Sự áp đặt này còn mang ý chí chủ quan của cấp quản lí và chưa dựa vào đặc điểm tâm sinh lí cũng như sở thích của đối tượng người học. Bên cạnh đó, Dewey còn cho rằng, bản chất của giáo dục chính là cuộc sống, thay vì giáo dục như việc đặt ra các quy tắc để học sinh thực hiện theo, mang tính áp đặt thì giáo dục phải có chương trình giáo dục riêng cho mọi người, khi xây dựng giáo dục phải dựa trên quan niệm về “bản tính người” mà bản tính con người bao giờ cũng mang tính chủ thể, cái mà để phân biệt mình với người khác. Đặc biệt trong quan niệm coi giáo dục là sự tái kiến tạo hoặc tổ chức lại kinh nghiệm mang tính liên tục điều này cũng đã khẳng định kinh nghiệm đó mang cả tính xã hội và tính cá nhân chứ không phải là sự tuyệt đối hóa mặt xã hội hoặc ngược lại là mặt cá nhân của kinh nghiệm. Cũng theo ông, sai lầm của phương pháp giáo dục truyền thống là người thầy thường yêu cầu người học tự tư duy để tìm ra cách giải quyết vấn đề như thể người học có thể lấy chúng ra từ trong đầu vậy. Trong khi đó, việc giải quyết khó khăn cần có sẵn những dữ kiện trợ giúp suy nghĩ cần thiết. Chất liệu của tư duy là hành động, sự việc, sự kiện, các mối quan hệ của sự việc chứ không phải là suy nghĩ. Bởi vậy, để tư duy hiệu quả, người ta phải đã hoặc đang có những kinh nghiệm dùng làm nguồn lực giải quyết khó khăn trước mắt. Thứ ba, trong nền giáo dục truyền thống, trẻ em là người học thụ động và phải tuân theo những chuẩn mực đạo đức của người lớn Theo Dewey, “vì nội dung và các chuẩn mực ứng xử thích hợp được truyền lại từ quá khứ, vì thế thái độ ứng xử của học sinh, nói chung, phải là thái độ ngoan ngoãn, thu động và vâng lời”, “rèn luyện đạo đức cốt ở việc hình thành những thói quen hành động phù hợp với những nguyên tắc và chuẩn mực này” [6, tr.33]. Trong tiểu luận “Trẻ em và chương trình học” được đăng lần đầu tiên dưới dạng sách mỏng do University of Chicago Press ấn hành năm 1902, Dewey cho rằng, nền giáo dục truyền thống xem “trẻ em đơn thuần là một sinh vật non nớt cần được làm cho trưởng thành; trẻ em là một sinh vật hời hợt cần được làm cho sâu sắc; kinh nghiệm của trẻ còn hạn hẹp nên cần được mở rộng. Trẻ em có bổn phận phải tiếp nhận, chấp nhận. Trẻ hoàn thành bổn phận của mình khi nó ngoan ngoãn và vâng lời” [8, tr.447]. John Dewey thường phản đối quá trình học tập trong sự phớt lờ và tách biệt của cá nhân khác trong cộng đồng. Bởi vì, một cá nhân bị cô lập với những cá nhân khác sẽ luôn bộc lộ ra những phản ứng tiêu cực ngăn cản quá trình phát triển của chính cá nhân đó cũng như những người xung quanh. Ngoài ra, ông còn đề cao vai trò của gia đình và nhà trường. Đây được xem là hai nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới sự định hình và tăng trưởng tính cách, cảm xúc, trí tuệ và đạo đức cá nhân. Từ chỗ làm cho người học thụ động, kéo theo nền giáo dục truyền thống làm thui chột tư duy phản biện, đánh mất quyền dân chủ của người học. Dewey cho rằng nền giáo dục dân chủ sẽ tạo mọi cơ hội cho mỗi cá nhân bộc lộ những năng lực của mình, đồng thời học hỏi được kinh nghiệm của những người xung quanh: “Một cá nhân có nhiều các mối tiếp xúc đa dạng tức là anh ta phải phản ứng lại nhiều kích thích đa dạng; do đó sự thay đổi hành vi trở nên có tầm quan trọng đặc biệt. Cá nhân được giải phóng các năng lực cho tới lúc đó vẫn còn bị đàn áp bởi Đoàn Văn Re 246 chừng nào mà những mối kích thích hành vi vẫn mang tính thiên vị, bởi các cá nhân phải sống trong một nhóm mà sự biệt lập đã ngăn chặn rất nhiều mối hứng thú” [7, tr.114]. Nhấn mạnh vai trò đặc biệt về tầm quan trọng của nhà trường và giáo dục nhà trường trong tiến trình phát triển xã hội, John Dewey khẳng định, nhà trường phải là nơi trẻ em được tập dượt cuộc sống của một xã hội dân chủ với lí tưởng đề cao tự do và phẩm giá của con người, tính đa dạng trong cá tính và năng lực cá nhân nhằm hòa nhập tốt hơn vào nền văn hóa chung của nhân loại. Những trải nghiệm giáo dục xuất phát từ quan niệm về dân chủ trong giáo dục sẽ giúp các cá nhân trở thành những công dân tích cực của xã hội, tham gia đóng góp tài năng và sức lực của mình vào sự nghiệp xây dựng một đất nước, đồng thời chủ động trong đời sống của riêng mình. Đây là điều mà thế hệ trẻ Việt Nam rất cần học tập và trang bị cho bản thân. Thứ tư, nền giáo dục truyền thống xem trọng nội dung của chương trình học, chưa xem người học giữ vai trò trung tâm John Dewey phê phán gay gắt, chỉ ra hạn chế lớn nhất của phương pháp giáo dục trong nhà trường truyền thống là đã bắt người học giải quyết những vấn đề đặt ra bởi người thầy giáo chứ không phải là những vấn đề với tư cách một con người: đó là những vấn đề bản thân người học đặt ra hoặc những vấn đề cuộc sống thường ngày đặt ra cho chúng. Phương pháp giáo dục truyền thống với việc giải quyết những vấn đề đặt ra bởi thầy giáo sẽ dần đến tình trạng khiến người học chỉ hướng tới đi tìm những điều thầy giáo mong muốn, điều làm thầy giáo hài lòng vì sự thuộc bài, sự kiểm tra và thái độ ứng xử bên ngoài, việc này làm cho mối quan hệ của người học với nội dung học tập không còn trực tiếp. Mục tiêu học tập lúc này là những quy ước và tiêu chuẩn của nhà trường mà người học thi hành hệ thống đó. Những phương pháp quen thuộc này của nhà trường sẽ cho kết quả trong tình huống tốt nhất thì tư duy được gợi ra cũng chỉ là phiến diện, giả tạo, còn tình huống xấu nhất thì người học chỉ cần làm ra vẻ hoặc đủ gần đáp ứng yêu cầu là được. Phương pháp như vậy tạo ra ở học sinh năng lực phán đoán nhưng không có sự bổ sung mong muốn vào tính cách. Phương pháp “thử và sai” đưa ra nhằm khắc phục những phương pháp quen thuộc của nhà trường nhằm đánh thức tư duy của người học chứ không phải bắt học thực hiện những khuôn mẫu sẵn có. Ông cho rằng nhà trường phải tạo ra các tình huống có vấn đề trong quá trình dạy học nhằm kích thích tư duy và phương pháp thẩm tra cá nhân. Bên cạnh đó, theo ông nền giáo dục truyền thống chú trọng giáo dục nhiều kiến thức và kĩ năng đã được phát triển trong quá khứ, trong đó “sách vở, nhất là sách giáo khoa là đại diện quan trọng nhất của toàn bộ sự hiểu biết” [6, tr.34], “các môn học này giới thiệu một thế giới được sắp đặt trên cơ sở của chân lí vĩnh cửu và phổ quát; một thế giới tất cả ở đó đều được đo lường và được định nghĩa. Do đó đạo đức là: hãy phớt lờ và hạ thấp những đặc tính riêng biệt của trẻ, những suy nghĩ bất thường và những kinh nghiệm của trẻ” [8, tr.446-447]. Chính vì vậy, các nhà giáo dục truyền thống nói chung trong đó có các nhà giáo dục của Việt Nam nói riêng hầu như vẫn chỉ chú trọng đến việc thiết kế nội dung môn học, sách giáo khoa hay nhấn mạnh vai trò của người thầy thay vì chú ý vào đặc điểm của chủ thể giáo dục. Điều này đồng nghĩa với việc chưa xem người học là trung tâm của giáo dục. Đồng quan điểm với các nhà giáo dục tiến bộ, John Dewey cho rằng: “Trẻ em là điểm xuất phát là trung tâm và là mục đích. Sự phát triển của trẻ, sự trưởng thành của trẻ mới là việc phải làm. Cá tính, nhân cách quan trọng hơn nội dung. Không phải là nhận thức hay kiến thức mà là sự phát triển năng khiếu bản thân mới là mục tiêu. Trong giáo dục, sự sở hữu rất nhiều tri thức mà đánh mất cái bản ngã của mình thì cũng như một định mệnh khủng khiếp giống như trong tôn giáo. Mặt khác nội dung không bao giờ có thể được đưa từ bên ngoài vào bên trong trẻ. Học tập là mang tính chủ động. Học bao hàm tâm trí phải hoạt động để tìm cái
Tài liệu liên quan