Sắc màu tâm linh trong địa danh Việt Nam qua yếu tố giai thoại và truyền thuyết

TÓM TẮT Từ sự biết, sự hiểu, sự lưu truyền những giá trị truyền thống dân tộc, thông qua những giai thoại và truyền thuyết gắn với địa danh, với những sắc màu linh thiêng hóa, thần thánh hóa, nhiều giá trị mang tính truyền thống tín ngưỡng bản địa và những giá trị tôn giáo và cả những giá trị giao lưu, tiếp biến văn hóa với các dân tộc, các quốc gia khác trong diễn trình lịch sử của dân tộc đã được bộc lộ, được cộng hưởng và lan tỏa. Sự hiện hữu của những yếu tố linh thiêng hóa, tâm linh hóa trong giai thoại và truyền thuyết ở mỗi một địa danh, thực sự đã gắn bó, hòa quyện vào đời sống tinh thần người Việt, đáp ứng nhu cầu con người từ hai phương diện niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo và sự chuyển hóa tâm thức, thực hành các nghi lễ truyền thống. Đây chính là cơ sở tạo nên vẻ đẹp, sức hấp dẫn, thu hút, sức lan tỏa đặc biệt của chiều văn hóa tâm linh trong địa danh.

pdf13 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 211 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sắc màu tâm linh trong địa danh Việt Nam qua yếu tố giai thoại và truyền thuyết, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TAÏP CHÍ ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 21 - Thaùng 6/2014 27 SẮC MÀU TÂM LINH TRONG ĐỊA DANH VIỆT NAM QUA YẾU TỐ GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH (*) TÓM TẮT Từ sự biết, sự hiểu, sự lưu truyền những giá trị truyền thống dân tộc, thông qua những giai thoại và truyền thuyết gắn với địa danh, với những sắc màu linh thiêng hóa, thần thánh hóa, nhiều giá trị mang tính truyền thống tín ngưỡng bản địa và những giá trị tôn giáo và cả những giá trị giao lưu, tiếp biến văn hóa với các dân tộc, các quốc gia khác trong diễn trình lịch sử của dân tộc đã được bộc lộ, được cộng hưởng và lan tỏa. Sự hiện hữu của những yếu tố linh thiêng hóa, tâm linh hóa trong giai thoại và truyền thuyết ở mỗi một địa danh, thực sự đã gắn bó, hòa quyện vào đời sống tinh thần người Việt, đáp ứng nhu cầu con người từ hai phương diện niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo và sự chuyển hóa tâm thức, thực hành các nghi lễ truyền thống. Đây chính là cơ sở tạo nên vẻ đẹp, sức hấp dẫn, thu hút, sức lan tỏa đặc biệt của chiều văn hóa tâm linh trong địa danh. Từ khóa: thần thánh, tín ngưỡng bản địa, tâm linh, giai thoại, truyền thuyết. ABSTRACT From the knowlegeable understanding of traditionally national values handed down by one generation to another, depicted through anecdotes, legends tied with place - names colorfully legendized and deified, exist the values that hold native belief and religion, as well the exchangeable values of culture with other peoples or states in the course of national history that have been displayed and resonated. The existence of the diefication and legend elemments in anecdotes and stories in different place- names have been closely harmonized and connected with the spiritual life of the people of Viet Nam, meeting the human requirement on both belief, and religion as well the spiritual evolution and the practice of traditional rituals. It is the basics that form the beauty and attraction, and spread out the spiritual dimention of the place names. Keywords: deities and saints, native belief, anecdotes, legends 1. DẪN NHẬP* Lẽ thường, khi nhắc đến tâm linh, người ta nghĩ ngay đến một cái gì đó thiêng liêng, vô hình, phi thực và mang tính vĩnh cửu. “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [2, 11]. Với trường hợp các địa danh, điều đó là rõ nét nhất, rõ đến mức có thể nhìn thấy được cả chiều kích, một chiều (*) TS, Khoa Văn hóa – Du lịch, Trường Đại học Sài Gòn kích tâm linh được thẩm thấu qua những truyện tích, giai thoại và truyền thuyết gắn với những tên gọi của những đối tượng địa lí-nhân văn cụ thể. Trong đó, những yếu tố giai thoại và truyền thuyết đã góp phần làm nên phần hồn của mỗi đối tượng địa lí-nhân văn ấy, tạo nên một không gian tâm linh trong địa danh để cho mọi giá trị tinh thần của bản sắc văn hóa dân tộc Việt được bộc lộ và lan tỏa. Nhờ đó, những sắc màu đẹp đẽ của bức họa về địa danh trở thành biểu SẮC MÀU TÂM LINH TRONG ĐỊA DANH VIỆT NAM QUA YẾU TỐ GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT 28 trưng cho những giá trị cao đẹp của hồn thiêng sông núi, của lòng kính ngưỡng, tri ân tổ tiên và các vị tiền nhân, các bậc thần, bậc thánh, các bậc tổ mẫu, của sự ngưỡng vọng đối với những sự hi sinh cao cả và đối với cuộc đấu tranh chống lại các thế lực tự nhiên và xã hội vì sự bình yên của cuộc sống, của sự cao cả đối với tình yêu đôi lứa, tình anh em, cha con, chồng vợ... Tất cả đều đã được thiêng hóa, linh hóa, thần thánh hóa. Bởi vậy, bên cạnh vẻ đẹp của không gian tự nhiên, nhiều địa danh trong hệ thống địa danh Việt Nam còn lan tỏa bằng vẻ đẹp của chiều kích không gian tâm linh, không gian tín ngưỡng tôn giáo. 2. KHÔNG GIAN TÂM LINH TRONG ĐỊA DANH VÀ BIỂU HIỆN CỦA SẮC MÀU TÂM LINH QUA GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT GẮN VỚI ĐỊA DANH VIỆT NAM Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn, có tính xác định, bao gồm tên riêng các địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ, mang trong mình “số phận” một đối tượng, một vùng đất, một dân tộc, một đất nước, một con người. Chúng được xem là những “vật hóa thạch”,“đài tưởng niệm”, tấm bia lịch sử- văn hóa của đất nước. Qua địa danh, chúng ta có thể thấy bóng dáng của một đời sống tự nhiên, một đời sống vật chất và tinh thần của con người với những nhu cầu tâm lý, tâm linh, những giá trị truyền thống bản địa cùng với những giá trị giao lưu, tiếp biến văn hóa với nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác trong diễn trình lịch sử -văn hóa của dân tộc. Do thế, mỗi một đối tượng địa lí- nhân văn, khi đóng vai trò là điểm hội tụ của không gian tâm linh trong địa danh, đấy là sự hợp thành của ba yếu tố: 1) Có dấu ấn của tín ngưỡng bản địa hoặc dấu ấn tôn giáo; 2) Có giai thoại, truyền thuyết lâu đời gắn với đối tượng địa danh đó và được nhân dân kính ngưỡng, lưu truyền; 3) Có không gian thiêng được bao quyện bởi khung cảnh thâm nghiêm, huyền tịch. Khi hội đủ những điều kiện của ít nhất một trong ba yếu tố này, mỗi đối tượng địa danh lúc ấy sẽ không còn đơn thuần chỉ có chiều kích vật lí mà đã vượt thoát trở thành một đối tượng nhân văn có chiều kích tâm linh, mở ra những chiều sâu của sự suy tưởng, suy nghiệm, những sắc màu mang tính chất thiêng hóa và luôn ánh lên vẻ đẹp của sự ngợi ca những giá trị của con người và văn hóa Việt Nam. Chỉ riêng nói về thành tố thứ hai, tức yếu tố giai thoại, truyền thuyết, nếu nhìn qua giác độ văn hóa dân gian, chúng ta sẽ thấy sự thẩm thấu và lan tỏa của những giá trị thiêng liêng trong truyền thống văn hóa dân tộc, nghĩa là nhìn các giá trị truyền thống dân tộc trong dòng chảy văn hóa và được lắng tụ ở mỗi địa danh, trong sự hiểu, sự biết và sự lưu truyền giữa các thế hệ người Việt, còn nếu nhìn qua giác độ ngôn ngữ học, tên gọi địa danh là sự ánh xạ của chiều kích tâm linh, một chiều thứ ba ngoài hai chiều vật lí mà một số nhà ngôn ngữ học theo quan điểm thuần túy chưa thực sự công nhận, chẳng hạn, Lê Trung Hoa định nghĩa: “Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều” [3, 12]. Vì vậy, trong bài viết này, đứng từ góc độ liên ngành văn hóa-ngôn ngữ học, chúng tôi muốn chứng minh rằng, có một chiều thứ ba thực sự - chiều tâm linh trong địa danh mà nhờ đó, những giá trị bản sắc văn hóa được lộ diện, nói khác đi đó là những biểu hiện về sắc màu của không gian tâm linh trong địa danh. Và với sự lan tỏa lung linh, huyễn hoặc của những sắc màu NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH 29 ấy, không gian tâm linh bỗng trở nên thực hơn và cũng ảo hơn bởi những giá trị vĩnh hằng được phản chiếu trong cõi nhân sinh và cõi linh thiêng thần thánh. 2.1. Sắc màu của không gian tâm linh biểu hiện sự kính ngưỡng với hồn thiêng sông núi và các đấng thần thánh qua giai thoại và truyền thuyết gắn với địa danh Việt Nam Khác với cách nghĩ thiên về trừu tượng, ở trường hợp cụ thể của địa danh, không gian tâm linh lại được biểu hiện khá sống động, với sự vận động cả trong chiều không gian lẫn chiều thời gian. Nhìn trong chiều thời gian, không gian tâm linh được biểu hiện và hàm chứa qua bức màn sương khói về diễn trình lịch sử của đời sống con người với những quy luật phát triển riêng của nó. Nhìn trong chiều không gian, không gian tâm linh lại được biểu hiện qua sự vận động của những tên gọi chỉ địa hình hay chỉ công trình xây dựng ở mỗi địa phương vùng, miền khác nhau và luôn chứa đầy huyền tích. Với sự thẩm thấu và lan tỏa từ những giai thoại và truyền thuyết, chiều kích của không gian tâm linh đã bộc lộ một cách rõ nét, trước hết là vẻ đẹp của hồn thiêng sông núi Việt Nam. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong trường ca "Mặt đường khát vọng" đã diễn tả rất đúng ý này: "...Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên. Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta...” Những địa danh được nhắc đến trong lời thơ trên hẳn không xa lạ gì với bất cứ người Việt Nam nào bởi lẽ đơn giản, chúng gần gũi và quen thuộc đến mức những sự tích, giai thoại hay truyền thuyết gắn với tên gọi địa danh ấy ai cũng có thể thuộc, ai cũng có thể kể. Nhờ thế, trong sự hiểu, sự biết và sự lưu truyền giữa các thế hệ người Việt, chúng được xem như những địa chỉ tâm linh tiêu biểu mà mọi người thường hướng đến mỗi khi muốn tìm về những giá trị nguồn cội hoặc những giá trị thiêng liêng của truyền thống dân tộc hay văn hóa bản địa. Một địa danh Hạ Long chẳng hạn, với trí tưởng tượng dân gian và ý niệm về cội nguồn con Rồng cháu Tiên, người Việt đã tạo nên một truyền thuyết hết sức cao quí và thiêng liêng nhằm bất tử hóa ý niệm đó trong tên gọi địa danh này. Cho nên, thực chất câu chuyện Ngọc Hoàng sai rồng mẹ mang theo một đàn rồng con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc ngay từ thuở mới bắt đầu lập nước, sau đó vì thấy con người và vùng đất thanh bình, tươi đẹp, mẹ con đàn rồng không trở về trời mà ở lại cùng muôn đời con cháu nước Việt gìn giữ đất nước, đấy là vì cha ông ta muốn tạo ra hàm ý sâu xa nhằm nhắn gửi cho hậu thế về vùng đất rồng tiên, cội nguồn cao quí của dân tộc. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà mỗi đối tượng địa danh của vùng đất thiêng này đều được chỉ rõ trong tên SẮC MÀU TÂM LINH TRONG ĐỊA DANH VIỆT NAM QUA YẾU TỐ GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT 30 gọi: nơi rồng mẹ đáp xuống là Hạ Long; nơi rồng con đáp xuống là Bái Tử Long và nơi đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xoá là Bạch Long Vĩ. Có thể nói, với sự kì vĩ của không gian tự nhiên đã làm cho những truyền thuyết gắn với những địa danh ở đây mang tính chất thiêng hóa và được hòa nhịp, lan tỏa: một người con gái vạn chài xinh đẹp vì quyết liệt bảo vệ tình yêu chung thủy mà bị đày ra đảo hoang rồi hóa thành hang Trinh Nữ; một chàng trai hoá đá luôn quay mặt về phía hang Trinh Nữ như là sự huyễn hoặc của tự nhiên với thế giới người đời; hay một động Kim Quy, nơi gắn với truyền thuyết về Rùa Vàng sau khi giúp vua Lê Lợi đánh tan quân giặc, đã tiếp tục diệt trừ yêu quái, rồi hoá đá trong động; hay truyền thuyết về vua Rồng ở động Thiên Cung, một chứng cứ về sự hòa hợp giữa thần linh và người trần giới, giữa cõi thiêng và cõi thực. Phải chăng đây là bức thông điệp mà người xưa muốn gửi cho hậu thế? Phải chăng đây là không gian tâm linh của hồn thiêng sông núi Việt Nam được hình hài hóa, hiện hữu hóa nơi địa danh được coi là biểu tượng của vẻ đẹp đất trời Việt Nam? Trong sự hiểu, sự biết và sự lưu truyền giữa các thế hệ người Việt, việc ý niệm hóa, hiện hữu hóa những giá trị thiêng liêng qua giai thoại và truyền thuyết tạo nên không gian tâm linh trong địa danh không chỉ được biểu hiện ở một trường hợp mà dường như, có tính chất hàng loạt và gần như lan tỏa suốt một dải đất hình chữ S của đất nước Việt Nam. Như trường hợp danh thắng Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng chẳng hạn, chỉ với 5 ngọn núi đá vôi hình thành mà có biết bao câu chuyện huyền thoại, truyền thuyết được thêu dệt. Đáng kể nhất là truyền thuyết về con Rồng đẻ ra quả trứng Long Quân rồi nở ra một cô Tiên xinh đẹp, từ đấy nâng lên tầm cao của triết lí Ngũ hành, hóa tạo nên đá núi Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn và Thổ Sơn, khắc lên ý nghĩa của năm ngọn núi quần tụ, mang tầm cao của một học thuyết đã từng chi phối đời sống tư tưởng của dân tộc Việt, về sau còn được bổ sung thêm yếu tố Phật tích để hai hệ thống triết thuyết về tín ngưỡng bản địa và tôn giáo ngoại lai gặp gỡ nhau để rồi tiếp biến, đan xen trong dáng hình vật chất của những ngọn núi, của thạch nhũ hay động phủ, biến Ngũ Hành Sơn thành một trong những điểm tâm linh nổi tiếng bậc nhất không chỉ của vùng đất sông Hàn. Trường hợp những địa danh ở vùng đất sông Hương núi Ngự, vùng đất vua chúa, nơi linh thiêng tụ khí, thông qua sự hiểu, sự biết và sự lưu truyền giữa các thế hệ người Việt, những giai thoại, truyền thuyết gắn với những địa danh nơi đây cũng luôn được linh hiển hóa, đậm chất cao sang và không kém phần hào sảng. Chỉ riêng một địa danh chỉ ngôi chùa Thiên Mụ, trí nhớ dân gian lưu truyền ít nhất bốn truyền thuyết và đều liên quan đến sắc màu Phật giáo, sắc màu vua chúa: truyền thuyết thứ nhất cho rằng, Cao Biền- một viên tướng đời nhà Đường, từng tìm cách trấn yểm đồi Hà Khê, nhưng nhờ có bà tiên chỉ dẫn lập chùa thờ Phật, thỉnh cầu linh khí, bồi đắp mạch núi linh thiêng cho bậc quốc chủ xuất hiện về sau nên được gọi là núi Thiên Mụ; truyền thuyết thứ hai lại kể về chúa Nguyễn Hoàng nghe theo lời chỉ dẫn của bà lão nhà trời, khi tìm đất định đô, cầm nén hương xuôi theo dòng sông Hương, đến đúng địa phận kinh thành Huế thì nén hương cháy hết, tại đó, chúa cho mở đất, xây thành lập nên vương triều nhà Nguyễn tồn tại hơn 200 năm, với 13 triều đại kế tiếp nhau; truyền thuyết thứ ba lại kể, vị NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH 31 chúa Tiên Nguyễn Hoàng khi đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm chuẩn bị cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp, thấy ngọn đồi Hà Khê nhô lên như hình chiếc đầu rồng đang uốn khúc bên dòng nước trong xanh, lại được người dân địa phương mách bảo, rằng một bà tiên cho biết sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch, vì thế, chúa cho dựng một ngôi chùa trên đồi, ngoảnh mặt ra sông Hương, đặt tên là “Thiên Mụ Tự”; Truyền thuyết thứ tư kể về vua Tự Đức, vì cầu mong có con nối dõi, sợ chữ "Thiên" phạm đến trời nên vị vua này cho đổi từ "Thiên Mụ" thành "Linh Mụ" ("Bà mụ linh thiêng"). Như vậy, với trí nhớ dân gian, sự lưu truyền trong cả bốn truyền thuyết về cùng một địa danh đều cho thấy được lí do và nguồn gốc xuất hiện của một tên gọi, thấy được khí thiêng sông núi hiện hữu trong một đối tượng địa danh, thấy được sắc màu trong không gian tâm linh với sự lan tỏa của yếu tố tôn giáo, yếu tố tín ngưỡng văn hóa bản địa của cư dân nơi vùng đất này. Chính sự lưu truyền những giá trị nhân văn linh thiêng đó trong trí nhớ dân gian mà ở vùng đất miền Trung vốn từng là địa bàn sinh sống của cư dân Chăm, có khá nhiều địa danh, đặc biệt là trong hệ thống tháp Chăm trở thành điểm hội tụ văn hóa với nhiều truyền thuyết thể hiện những giá trị giao lưu và tiếp biến văn hóa và vì thế, sắc màu của không gian tâm linh ở đây khá đặc biệt. Trường hợp của thánh địa Mỹ Sơn, hay tháp Pônagar là những dẫn chứng tiêu biểu. Những truyền thuyết gắn với hai địa danh ấy đã cho người ta thấy tín ngưỡng cổ truyền của cư dân Chăm, cũng như tín ngưỡng cổ ở Đông Nam Á là theo thuyết vũ trụ lưỡng nghi với tư duy cặp đôi, tư duy âm dương là phổ biến và đã dung hợp với những tôn giáo được du nhập từ Ấn Độ như Ấn giáo, Phật giáo để trở thành tín ngưỡng chính của vương triều Champa. Hoặc địa danh chỉ công trình xây dựng tháp Pôklông Garai, ngôi tháp từng được xem là trung tâm rực rỡ nhất của nền văn minh Chăm, do vua Chế Mân chỉ đạo xây dựng từ cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14 đạt đỉnh cao trong kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc của dân tộc Chăm, mà truyền thuyết cho rằng nó là sản phẩm của vua Pôklông Garai, vị vua có sự khởi nguyên kì lạ ở người mẹ vốn được hạ sinh từ bọt biển, vì quyền lợi của dân tộc, để tránh đổ máu vô ích trong cuộc chiến với người Miên nên đã chủ động thách tướng Miên thi tài xây tháp, ai xong trước sẽ thắng. Kết quả cuộc chiến trí tuệ này, dĩ nhiên là sự chiến thắng của vua Pôklông Garai bằng sức mạnh, sự khéo léo, tài trí thông minh nên nhờ đó, bờ cõi được giữ yên, người dân được hưởng cuộc sống hòa bình, hạnh phúc. Trong dòng chảy của sự lưu truyền những giá trị nhân văn thiêng liêng đó, ở cuối trời phương Nam, nơi vùng “Hà Tiên thập cảnh”, có hệ thống cảnh quan tựa Vịnh Hạ Long, với những giai thoại, truyền thuyết gắn với địa danh nơi đây mới thấy hồn thiêng khí núi của đất trời Việt Nam tỏa rộng, sống động biết dường nào. Tuy mang đặc điểm của vùng đất mới vừa khắc nghiệt, vừa hoang dã nhưng những tên gọi địa danh ở đây lại mang đầy tính mĩ cảm và hình tượng: một hòn đảo Kim Dự Lan Đào (Đảo Vàng Chắn Sóng), một ngọn núi Bình San Điệp Thúy (Núi Bình San Xanh Biếc), một ngôi chùa Tiêu Tự Thành Chung (Tiếng Chuông Tiêu Tự), một Giang Thành Dạ Cổ (Tiếng Trống Đêm Ở Giang Thành), một động đá Thạch Động Thôn Vân (Mây Luồn Thạch Động), một núi Châu Nham Lạc Lộ (Châu Nham Cò Đậu), một hồ nước Đông Hồ Ấn Nguyệt (Đông Hồ Trăng Soi), SẮC MÀU TÂM LINH TRONG ĐỊA DANH VIỆT NAM QUA YẾU TỐ GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT 32 một vịnh nhỏ Nam Phố Trừng Ba (Sóng Trong Nam Phố), một xóm Lộc Trĩ Thôn Cư (Xóm Dân Ở Lộc Trĩ), một xóm chài Lư Khê Ngư Bạc (Cảnh Chài Cá Ở Lư Khê). Tô điểm cho mỗi tên gọi ấy là cả một tổ hợp những giai thoại, truyền thuyết hết sức đặc sắc. Chỉ riêng Thạch Động Thôn Vân- một cảnh đẹp được Mạc Thiên Tích, chủ soái của nhóm Tao Đàn Chiêu Anh Các đề cao trong bài thơ tổng vịnh mười cảnh đẹp “Bình Sơn, Thạch Động là rường cột/ Sừng sững muôn năm cũng để dành”- đã có nhiều truyền thuyết, trong đó nổi bật là truyền thuyết về chàng Thạch Sanh, mà với trí nhớ người dân của vùng này, họ luôn tin tưởng và tự hào rằng Thạch Động là nơi phát sinh câu chuyện cổ tích nổi tiếng khắp cả nước “Thạch Sanh Lý Thông”, là nơi Thạch Sanh chém chằn tinh để giúp dân làng, đồng thời cũng là nơi Thạch Sanh giết đại bàng và cứu công chúa, với bằng chứng xác thực trên đá, dưới chân đường thông thiên nhìn vào vách thạch nhũ còn hiện hữu những dấu vết chân chim, có hình đầu con đại bàng khổng lồ đang quặp một cô gái, có hình Thạch Sanh tay cầm búa đánh nhau với chằn tinh, trên vai vác công chúa để đưa công chúa lên khỏi hang động Hơn nữa, động còn là nơi thờ Phật, không khí linh thiêng của cõi Phật như được hòa quyện và làm xoa dịu những oan hồn của 130 người dân Việt Nam vô tội bị bọn Pôn Pốt thảm sát năm 1978 tại chính động này, khiến sắc màu tâm linh ở đây được cộng hưởng một sắc thái hết sức đặc biệt. Đó có lẽ là cái khoảng cách giữa cái huyền hoặc và cái trần giới, giữa cái thiên đường và cái địa ngục, giữa xưa và nay được kéo gần đến mức không đường ranh giới. Có lẽ vì vậy, một khi đã đến nơi đây, mỗi người vì nhu cầu thưởng lãm hay vì nhu cầu tâm linh, đều không khỏi thực hành chiêm bái, với một mặc tưởng tâm linh xác thực để tìm một sự thư thái, an bình trong cõi tâm hồn. 2.2. Sắc màu của không gian tâm linh biểu hiện sự ngưỡng vọng và linh thiêng hóa những giá trị cao cả của con người Việt Nam trong đấu tranh với thiên nhiên, xã hội và trong đời sống tình cảm Trong cuộc hành trình vượt thời gian, không gian để khẳng định những giá trị vĩnh hằng của truyền thống dân tộc, qua sự thẩm thấu và lan tỏa của từng giai thoại và truyền thuyết ở mỗi địa danh, sự hiểu, sự biết, sự lưu truyền những giá trị nhân văn thiêng liêng về chủ thể con người Việt Nam được bộc lộ khá đậm nét trên mọi phương diện của đời sống đấu tranh với thiên nhiên, xã hội cũng như đời sống tinh thần, tình cảm giữa các thành viên của mỗi cộng đồng trên cùng lãnh thổ. Theo đó, săc màu của khô