Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy kỹ năng thuyết trình bằng tiếng Pháp

Tóm t t: Hiện nay có tương đối nhiều tài liệu tham khảo bằng tiếng Pháp và tiếng Việt liên quan đến kỹ năng thuyết trình. Tuy nhiên các tài liệu này không đi sâu phân tích các bước chuẩn bị thuyết trình bằng ngoại ngữ. Trên thực tế, thuyết trình bằng tiếng nước ngoài khó hơn thuyết trình bằng tiếng mẹ đẻ: ngoài kĩ năng nói trước công chúng, sinh viên còn cần có khả năng đọc và hiểu bằng tiếng nước ngoài, biết chuyển hoá ngôn ngữ viết thành ngôn ngữ nói, có khả năng nói to, phát âm đúng, tốc độ nói tương đối trôi chảy ). Vì vậy, chuẩn bị một bài thuyết trình bằng tiếng nước ngoài đòi hỏi công phu hơn và nhiều thời gian hơn. Bài viết này nhằm trả lời hai câu hỏi: Sinh viên cần trải qua các bước cụ thể nào để chuẩn bị một bài thuyết trình bằng tiếng Pháp?; Trong thời đại ngày nay, khi chúng ta đang sử dụng Internet 2.0 và 3.0, sinh viên và giáo viên cần ứng dụng những công nghệ thông tin nào trong các bước chuẩn bị thuyết trình?

pdf11 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 47 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy kỹ năng thuyết trình bằng tiếng Pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Ti u ban 1: Đào to chuyên ng 82 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG DẠY KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH BẰNG TIẾNG PHÁP Đng Th Vit Hoà Trường Đại học Hà Nội Tóm t t: Hiện nay có tương đối nhiều tài liệu tham khảo bằng tiếng Pháp và tiếng Việt liên quan đến kỹ năng thuyết trình. Tuy nhiên các tài liệu này không đi sâu phân tích các bước chuẩn bị thuyết trình bằng ngoại ngữ. Trên thực tế, thuyết trình bằng tiếng nước ngoài khó hơn thuyết trình bằng tiếng mẹ đẻ: ngoài kĩ năng nói trước công chúng, sinh viên còn cần có khả năng đọc và hiểu bằng tiếng nước ngoài, biết chuyển hoá ngôn ngữ viết thành ngôn ngữ nói, có khả năng nói to, phát âm đúng, tốc độ nói tương đối trôi chảy). Vì vậy, chuẩn bị một bài thuyết trình bằng tiếng nước ngoài đòi hỏi công phu hơn và nhiều thời gian hơn. Bài viết này nhằm trả lời hai câu hỏi: Sinh viên cần trải qua các bước cụ thể nào để chuẩn bị một bài thuyết trình bằng tiếng Pháp?; Trong thời đại ngày nay, khi chúng ta đang sử dụng Internet 2.0 và 3.0, sinh viên và giáo viên cần ứng dụng những công nghệ thông tin nào trong các bước chuẩn bị thuyết trình? Abstract: Nowadays there have been quite a number of reference documents in both French and Vietnamese which explain the skills and steps for presentation. However these materials do not fully cover steps for preparing a presentation in foreign languages. In practice, doing presentations in foreign languages is more difficult than in the mother tongue language: students need to be good at public speaking and also good at reading and understanding the foreign languages. They should be able to change the written language into spoken language, they need to speak loudly enough with good pronunciation and intonation, etc. Therefore, preparing for a presentation in foreign languages requires more time and effort. This research would focus on the folluowing two questions: What are the steps that students need to take to prepare for a presentation in foreign languages (French to be specific)?; In this modern time when we are using Internet 2.0 and 3.0, what information technologies can teachers and students use to prepare for the presentations and for the course? 1. Giới thiệu chung Sinh viên cần có khả năng thuyết trình bằng ngoại ngữ vì kĩ năng này không chỉ cần thiết trong hoạt động nghề nghiệp sau này mà còn cần thiết cho nhiều môn học. Do đó, môn “Kỹ năng thuyết trình” đã được đưa vào chương trình giảng dạy của nhiều trường đại học chuyên ngữ. Hiện nay có khá nhiều tài liệu hướng dẫn chuẩn bị một bài thuyết trình trước công chúng nhưng các tài liệu này không đi sâu phân tích các yếu tố cần quan tâm khi chuẩn bị bài thuyết trình bằng tiếng nước ngoài. Để có thể có được một bài thuyết trình chuyên nghiệp và thành công bằng ngoại ngữ, sinh viên cần trải qua các bước: xác định và khoanh vùng chủ đề thuyết trình, tìm thông tin, lập phiếu đọc- xây dựng dàn ý, soạn thảo nội dung, chuẩn bị tài liệu trình chiếu, và cuối cùng là thuyết trình. Trong tất cả các bước được giới thiệu trên, công nghệ thông tin và truyền thông, cụ thể là internet, các phần mềm và mạng xã hội cần được sử dụng. Dưới đây là bảng tóm tắt các công nghệ được sử dụng trong khuôn khổ môn học Kỹ năng thuyết trình bằng ngoại ngữ: Công nghệ được sử dụng Nội dung Mục đích sử dụng Dropbox toàn bộ môn học sử dụng trong toàn bộ môn học: chia sẻ tài liệu, nộp bài, chữa bài, quản lý môn học. Zotero tìm kiếm và quản lý tìm thông tin đáng tin cậy trên internet (các Chin lc ngoi ng trong xu th hi nhp Tháng 11/2014 83 Google alerte (google cảnh báo) Twitter, facebook thông tin trang web và mạng xã hội), quản lý, theo dõi và liên tục cập nhật thông tin trong suốt thời gian diễn ra môn học. tạo mục “tài liệu tham khảo” tự động nhờ phần mềm Zotero. Prezi, power point chuẩn bị phương tiện trình chiếu tạo công cụ thuyết trình hợp lý, sinh động. Audacity chuẩn bị thuyết trình ghi âm phần thuyết trình Qua bài viết này chúng tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy kĩ năng thuyết trình bằng ngoại ngữ nói chung và bằng tiếng Pháp nói riêng. Ban đầu chúng tôi giới thiệu dropbox, công cụ được dùng trong suốt môn học, sau đó, lần lượt giới thiệu từng bước chuẩn bị thuyết trình. Trong mỗi giai đoạn chuẩn bị, nếu có sử dụng công nghệ thông tin, sẽ cụ thể hoá công dụng, chức năng và cách dùng của từng ứng dụng. 2. Dropbox - công cụ dùng trong suốt thời gian diễn ra môn học Hiện nay, nhờ công nghệ đám mây, có nhiều ứng dụng giúp lưu trữ và chia sẻ thông tin trên mạng internet: dropbox, box, googledriver Việc sử dụng dropbox khá đơn giản, người dùng chỉ cần vào trang web: https://www.dropbox.com/ để tạo tài khoản, việc tạo tài khoản khá dễ dàng, sinh viên vốn đã có thói quen dùng thư điện tử hay các mạng xã hội đều lập được tài khoản mà không gặp khó khăn. Trên khuôn khổ môn học, để tiết kiệm thời gian trên lớp và tăng cường khả năng chủ động tự xoay sở, tìm tòi của sinh viên, và đặc biệt trong tình trạng mạng wifi ở trường không sẵn có hoặc quá yếu, giáo viên có thể yêu cầu sinh viên tự tạo tài khoản ở nhà. Kinh nghiệm cho thấy trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, mỗi sinh viên có nhiều tài khoản, với nhiều password khác nhau, nên việc quên tên đăng nhập và quên mật mã xảy ra khá thường xuyên. Sinh viên lưu lại trên một văn bản word các tên đăng nhập và mật mã tương ứng, và sau đó ghi lại văn bản này ở nhiều chỗ khác nhau, trên máy tính, trên mạng Việc chọn một mật mã duy nhất cho tất cả các tài khoản cũng có thể là một giải pháp tương đối hữu hiệu. Sau khi đã tạo tài khoản dropbox, sinh viên sẽ tải phần mềm dropbox và cài đặt vào máy. Sinh viên tải tại nhà để tránh mất thời gian trên lớp. Dropbox có phiên bản dành cho điện thoại di động và máy tính bảng nên người học hoàn toàn có thể tải về điện thoại để thường xuyên cập nhật thông tin về môn học ở bất kì đâu. Sau khi cài đặt, trên máy tính của người dùng sẽ hiện ra biểu tượng: Biểu tượng dropbox Khi máy tính của người dùng nối mạng, và mọi thông tin đã được đồng bộ hoá, ở góc trái của biểu tượng sẽ hiện ra một dấu v màu trắng trên nền xanh. Tiếp theo, giáo viên sẽ tạo một thư mục riêng dành cho môn học, lấy tên môn học ví dụ là “COM II” hoặc kĩ năng thuyết trình. Dựa theo lý thuyết của Marcel Lebrun, và cấu tạo của nền tảng Icampus được dùng tại trường đại học công giáo Louvain, để dùng dropbox như một công cụ để chia sẻ, hợp tác trong lớp học, giáo viên có thể chia thư mục này làm nhiều thư mục nhỏ bao gồm: thông báo, tài liệu học tập, đánh giá, bài tập. Ti u ban 1: Đào to chuyên ng 84 Cấu tạo thư mục môn học Trong thư mục Thông báo, giáo viên có thể để các thông báo liên quan tới môn học (thông báo về lịch học, lịch nộp bài, đăng kí thuyết trình), có thể yêu cầu sinh viên tra cứu thông báo trên dropbox trước khi tới lớp. Thư mục Tài liệu dùng để chứa tất cả những tài liệu dùng cho môn học. Thư mục Đánh giá là nơi để bảng điểm, phần kiểm tra, đánh giá, biểuđiểm hay nhận xét bài tập của sinh viên. Thư mục Bài tập là nơi sinh viên nộp bài. Trong thư mục này, giáo viên có thể tạo các thư mục con, ví dụ: Bài tập 1, Bài tập 2, Bài tập 3. Bài chữa 1, Bài chữa 2 Việc nộp bài rất đơn giản, sinh viên chỉ cần copy tài liệu word hoặc ppt... sẵn có, dán vào thư mục Bài tập trong dropbox với điều kiện máy tính có nối mạng. Tuỳ theo dung lượng của bài tập, tài liệu sẽ được đồng bộ hoá trên dropbox và tất cả các thành viên của nhóm gồm giáo viên, và sinh viên đều nhận được bài tập khi mở dropbox trên máy của từng cá nhân (máy có nối mạng để đồng bộ hoá, khi việc đồng bộ hoá hoàn tất, sinh viên và giáo viên có thể truy cập vào tài liệu dưới dạng off line trên máy tính). Sinh viên hoàn toàn có thể soạn thảo bài tập luôn trên dropbox, mọi thay đổi trên văn bản sẽ được đồng bộ hoá, tuy nhiên để đảm bảo an toàn trong trường hợp có vấn đề, giáo viên khuyên sinh viên nên soạn thảo toàn bộ bài tập trên máy tính, rồi sau đó dán lên dropbox. 3. Bước 1: Chọn chủ đề và tìm kiếm thông tin Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả muốn trình bày các bước sinh viên cần trải qua để thực hiện một bài thuyết trình bằng ngoại ngữ, mang tính chất thông tin hay khoa học thường thức. Đối với chương trình đào tạo cử nhân biên phiên dịch, môn học này được đưa vào trước môn học dịch, nhằm trang bị cho sinh viên khả năng tìm kiếm Chin lc ngoi ng trong xu th hi nhp Tháng 11/2014 85 thông tin đáng tin cậy trong một số lĩnh vực: môi trường, giáo dục, kinh tế, cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin Việc làm bài thuyết trình trong các lĩnh vực này giúp sinh viên có những hiểu biết cơ bản đồng thời trang bị vốn từ vựng nhằm chuẩn bị tốt cho môn học dịch viết và dịch nói. Sinh viên cần có trình độ B1-B2 ở môn học này vì môn học đòi hỏi sinh viên có khả năng đọc hiểu bằng ngoại ngữ và biên tập lại thông tin tìm được. Tức là sinh viên vừa phải có khả năng tiếp nhận vừa phải có khả năng sản xuất thông tin. Sinh viên ban đầu sẽ chọn chủ đề khá rộng: môi trường, kinh tế, giáo dục, công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế, du lịch... Chủ đề này cần được khoanh vùng cụ thể hơn, giáo viên có thể định hướng sinh viên quan tâm đọc báo và sách về các mảng đề tài trên để có thể xác định được chủ đề hẹp hơn ví dụ: tình hình ô nhiễm nguồn nước tại Hà Nội, tình hình xử lý rác thải tại Hà Nội, hiện trạng phát triển du lịch sinh thái hoặc Môn giáo dục giới tính ở Pháp được dạy như thế nào? Toàn cầu hoá là gì, tác động của toàn cầu hoá tới nền nông nghiệp Việt nam? Quảng cáo trên Facebook diễn ra dưới những dạng thức nào?... Việc xác định được chủ đề hẹp có thể là mối quan tâm sẵn có của sinh viên, có thể rất tình cờ, nhưng thông thường, sinh viên sẽ phải bắt đầu tìm đọc tài liệu, đọc cả bằng tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài để hiểu thấu đáo vấn đề vì qua đó sinh viên sẽ nhận thấy chủ đề họ quan tâm có nhiều tài liệu không, mảng đề tài đó liệu có phải vấn đề được dư luận quan tâm không? Nếu không tìm được tài liệu, không thu thập được thông tin thì không thể thực hiện bài thuyết trình. Việc chọn chủ đề không chỉ phụ thuộc vào bản thân người làm thuyết trình. Sinh viên thuyết trình cũng cần chú ý đến đối tượng nghe bài trình bày, ví dụ trong khuôn khổ lớp học, người nghe sẽ là các bạn trong lớp và giảng viên vì vậy, người thuyết trình cần chú ý tới các yếu tố sau: Bài thuyết trình phải mang lại thông tin mới mà người nghe chưa được biết. Nếu bài trình bày chỉ nhắc lại thông tin mà người nghe đã biết, đã hiểu thì người nghe sẽ không tập trung chú ý vì bài thuyết trình không có ích cho họ. Tuy nhiên, lượng thông tin mới phải ở mức cho phép, người nghe chỉ có thể hiểu khi họ có một vốn kiến thức nền nhất định, và kiến thức nền này tạo thành cầu nối cho phép họ thu nhận những kiến thức mới. Ví dụ, một học sinh 8 tuổi sẽ khó có thể hiểu bài thuyết trình về ảnh hưởng của toàn cầu hoá đối với nền nông nghiệp Việt Nam, người già không bao giờ dùng Facebook sẽ không thể hiểu bài thuyết trình về quảng cáo trên Facebook. Vì vậy, chủ đề hẹp được chọn vừa phải mang lại thông tin mới lại vừa không quá kĩ thuật, không quá khó để không làm người nghe nản chí (người nghe luôn muốn cảm thấy là họ thông minh, họ hiểu và thu nhận thông tin mới từ người nói). Ví dụ, khi trình bày về xử lý rác thải, không nhất thiết phải đi sâu vào phân tích kĩ thuật và công nghệ. Cần lưu ý thêm là sinh viên sẽ thuyết trình bằng tiếng nước ngoài nên trong bài thuyết trình không nên có quá nhiều từ mới. Theo nghiên cứu thì số lượng từ mới không nên vượt quá 30% tổng số từ trong bài. Ở bước này sinh viên nên chọn các chủ đề cả về Việt Nam và về nước ngoài vì sinh viên không chỉ cần hiểu biết về đất nước đích mà còn cần hiểu rõ về nước mình. Hiểu rõ mình và hiểu rõ đối tượng cùng làm việc với mình là hai yếu tố cần thiết để làm việc thành công trong môi trường toàn cầu hoá, và trong việc hình thành kĩ năng ứng xử liên văn hoá. 4. Bước 2: Tìm tài liệu Khi đã chọn chủ đề, ví dụ về toàn cầu hoá và nông nghiệp Việt Nam, sinh viên cần tìm định nghĩa bằng tiếng nước ngoài. Tìm được định nghĩa rõ ràng và đúng, sinh viên sẽ gạch chân từ khoá trong định nghĩa và tiếp tục tự đặt ra các câu hỏi nhỏ (ai, cái gì, ở đâu, như thế nào, tại sao): toàn cầu hoá là gì, nông nghiệp là gì. Toàn cầu hoá bắt đầu từ khi nào? Toàn cầu hoá ảnh hưởng như thế nào tới các nước phát triển? Sau khi đã tìm định nghĩa và từ khoá quan trọng của chủ đề, sinh viên sẽ tìm thông tin trên mạng Ti u ban 1: Đào to chuyên ng 86 hay tại thư viện hay các nguồn khác mà họ tiếp cận được nhưng thông thường, đối với sinh viên Việt Nam, tìm trên Internet là hữu dụng nhất, thông tin trên Internet đồng thời cũng là thông tin mới nhất. Công cụ được tìm kiếm chủ yếu là google cho tiếng nước ngoài và Cốc cốc cho tiếng Việt. Trong quá trình tìm kiếm thông tin, sinh viên sẽ tìm nhiều thấy tài liệu bằng tiếng nước ngoài hơn khi tìm với google bằng ngôn ngữ đích, ví dụ muốn tìm được nhiều tài liệu bằng tiếng Pháp, sinh viên nên chọn google france, google belgique, google canada hoặc google suisse. Đương nhiên, ngoài Google còn có rất nhiều công cụ tìm kiếm khác nhưng tìm trên Google sinh viên đã thấy rất nhiều tài liệu, quá nhiều tài liệu là không cần thiết, vì nó sẽ làm nhiễu loạn thông tin. Mặt khác, ở giai đoạn này, sinh viên cần biết phân loại thông tin dựa vào hai yếu tố chủ yếu: - Nguồn gốc thông tin: các thông tin từ các trang web chính phủ (org, gov) từ các tổ chức giáo dục (edu) hoặc trang chủ của các đơn vị nghiên cứu, các trường đại học, hoặc blog của một cá nhân là nhà nghiên cứu hoặc chuyên gia trong một lĩnh vực nhất định là thông tin có độ tin cậy cao. - Nội dung thông tin: bài viết chứa thông tin khách quan đáng tin cậy hơn bài viết có nhiều yếu tố ngôn ngữ thể hiện thái độ của người viết với nội dung được trình bày. Bài viết có nhiều số liệu thống kê, tên người thật việc thật đáng tin hơn bài viết mang tính diễn giải, kể chuyện một cá nhân hoặc vài cá nhân không có thật. Google là công cụ tìm kiếm đầu tiên khuyên dùng với sinh viên, vì thông tin trên google thường dễ đọc và dễ hiểu. Tuy nhiên, nếu sinh viên có trình độ giỏi, có khả năng hiểu tốt và chắt lọc thông tin cao, thì công cụ rất nên sử dụng là google scholar, google livres (sách). Công cụ thứ nhất google scholar là một công cụ tìm kiếm đáng tin cậy cho phép tìm được các bài báo mang tính học thuật cao được các trường đại học trên thế giới công nhận, công cụ này đồng thời cũng giúp tìm thấy một số sách. Công cụ thứ hai google livres cho phép tìm thấy sách. Vì một trong những mục đích chính của google livres là quảng cáo sách nên sinh viên sẽ không đọc được toàn văn, mỗi cuốn sách sẽ có vài trang hoặc nhiều trang khuyết nhưng sẽ đọc được phần lớn các thông tin cơ bản. Việc này rất quan trọng khi thư viện ở Việt Nam chưa có đủ ngân sách để thường xuyên mua sách bằng tiếng nước ngoài về nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, các bài báo khoa học và sách khoa học thường khó hiểu hơn các nguồn thông tin tìm được trên google. Bù lại, thông tin thườngđáng tin cậy hơn. Google scholar Ngoài việc tìm thông tin, sinh viên còn có thể cập nhật thông tin liên tục qua một số công cụ: Google alerte (google cảnh báo), Twitter, facebook, netvibe, scoop.it Việc đơn giản nhất là cập nhật thông tin qua mail: người dùng cần vào Google alerte (google cảnh báo), ghi lại từ khoá và thời gian muốn nhận thông tin (hàng ngày, hàng tuần, hay hàng tháng). Thao tác này hoàn thành, người dùng sẽ thường xuyên nhận được mail tổng hợp các bài viết thuộc nội dung đã đăng kí, xuất hiện mới trên Internet. Ngoài ra, sinh viên cũng có thể chọn Chin lc ngoi ng trong xu th hi nhp Tháng 11/2014 87 LIKE một fanpage của một tổ chức có liên quan đến chuyên đề mình chọn, hoặc follow một chuyên gia, một tổ chức trên twitter. Việc này giúp sinh viên nhận được thông tin mới, và cập nhật về mảng đề tài mình chọn. Ngay khi bắt đầu công việc tìm kiếm thông tin, sinh viên cần sử dụng Zotero. Đây là một công cụ giúp quản lý các trang web của người dùng. Công cụ này đồng thời là phần mềm giúp xuất tất cả những trang web và các sách đã đọc thành file word “Tài liệu tham khảo” theo đúng chuẩn thế giới. Phần mềm này có thể được tải về từ trang chủ: https://www.zotero.org/ Việc sử dụng phần mềm này kháđơn giản, sinh viên cài đặt tại nhà, giáo viên hướng dẫn sử dụng. Để tăng cường khả năng làm việc độc lập của sinh viên, giáo viên có thể cho sinh viên xem video hướng dẫn sử dụng trên youtube, việc này vừa giúp sinh viên luyện nghe hiểu vừa giúp tiết kiệm thời gian trên lớp. Ngay khi tìm thấy một tài liệu hay có thể dùng cho bài thuyết trình, sinh viên sẽ ghi lại trên Zotero (thao tác đơn giản, nhấn vào biểu tượng trên màn hình). Việc ghi lại ngay từ đầu những tài liệu tìm thấy giúp tiết kiệm thời gian vì nếu sau khi hoàn tất bài thuyết trình sinh viên mới tìm lại xem mình đã dùng tài liệu gì thì sẽ mất thời gian và mệt mỏi, đồng thời các phần trích dẫn có thể sẽ không chính xác. Khi hoàn tất bài thuyết trình, sinh viên chỉ cần thực hiện hai, ba thao tácđơn giản là có thể xuất ra danh mục tài liệu tham khảo có dạng như sau: • 2013 World University Rankings | Academic Ranking of World Universities [Internet]. [cité 14 juin 2014]. Disponible sur: • Classement des universités françaises les plus populaires sur Facebook - Publié le Mardi 18 Mars 2014 [Internet]. [cité 4 mai 2014]. Disponible sur: orientations.com/actualites/classement-des- universites-francaises-les-plus-populaires- sur-facebook-14634 • La visibilité des universités sur internet [Internet]. [cité 14 juin 2014]. Disponible sur: des-universits-sur-internet • Mace G, Pétry F. Guide d’élaboration d’un projet de recherche en sciences sociales [Internet]. De Boeck Supérieur; 2010. Ti u ban 1: Đào to chuyên ng 88 Disponible sur: hZEC • Zihisire MM. La recherche en sciences sociales et humaines: Guide pratique, méthodologie et cas concrets [Internet]. Editions L’Harmattan; 2011. Disponible sur: vpGgC Phần mềm Endnote có chức năng tương tự như Zotero, nhưng đây là phần mềm có tính phí, và không tiện dụng bằng Zotero trong việc lưu giữ địa chỉ các trang web. Việc lưu giữ đòi hỏi nhiều công đoạn hơn. 5. Bước 3: Lập phiếu đọc - Xây dựng dàn ý Sau khi tìm thông tin, sinh viên chuyển qua giai đoạn đọc lướt thông tin. Thực chất, mục đích của bài thuyết trình là sinh viên tổng hợp thông tin, sắp xếp lại theo trật tự logique của mình và giới thiệu lại thông tin đã đọc. Vì vậy, ở giai đoạn này, người học cần lập một văn bản word, lần lượt đọc lướt từng văn bản, copy toàn bộ văn bản hoặc những đoạn văn mình có thể sẽ dùng vào bảnword. Lưu ý, khi copy thì đồng thời dùng chức năng trích dẫn của Zotero để luôn biết thông tin được lấy từ nguồn tài liệu nào. Ở giai đoạn này, sinh viên cũng tạo mục lục bao gồm tiêu đề của các tài liệu mình sử dụng bằng cách: vào mục “reference”- bôi đen tiêu đề - add text level. Sau đó, để con trỏ chuột vào vị trí muốn đặt mục lục, trên thanh công cụ, chọn table of contents –insert table. Ngoài ra, trong quá trình làm việc, nếu muốn có cái nhìn tổng thể về số lượng bài mình đã chọn sinh viên có thể chọn trên thanh công cụ view- navigation pane. Khi hoàn thành thao tác này, trên văn bản word đang mở, ở góc trái sẽ hiện ra sơ đồ của văn bản, điều này giúp người soạn thảo luôn nhớ bố cục văn bản của mình. Khi hoàn thành công đoạn này sinh viên đã có tập hợp toàn bộ
Tài liệu liên quan