Môn pháp luật đại cương chương 1: nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và địa vị pháp lý của cơ quan trong bộ máy nhà nước

1.1.1.1. Nguồn gốc của Nhà nước a. Tổ chức xã hội và quyền lực trong xã hội Cộng sản nguyên thủy. Xã hội loài người đã trải qua một thời kỳ không có nhà nước và pháp luật, đó là thời kỳ Cộng sản nguyên thủy. Trong thời kỳ này, do trình độ phát triển hết sức thấp kém của lực lượng sản xuất nên con người cùng sống chung, cùng lao động và cùng hưởng thụ những thành quả do lao động chung mang lại. Mọi người đều bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, xã hội không phân biệt kẻ giàu người nghèo, không có sự phân chia giai cấp. Cơ sở kinh tế của xã hội Cộng sản nguyên thủy tạo ra hình thức tổ chức xã hội là Thị tộc - tổ chức cơ sở đầu tiên của xã hội loài người. Thị tộc là một tổ chức lao động sản xuất, một bộ máy kinh tế xã hội. Sự phát triển của xã hội cộng với các yếu tố tác động khác đòi hỏi Thị tộc phải mở rộng quan hệ với các Thị tộc khác, dẫn đến sự xuất hiện các Bào tộc và Bộ lạc do nhiều Bào tộc hợp thành. Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy, quyền lực chưa tách khỏi xã hội mà gắn liền với xã hội, hòa nhập với xã hội. Để tổ chức và quản lý thị tộc, xã hội đã hình thành hình thức Hội đồng thị tộc bao gồm tất cả những người lớn tuổi trong Thị tộc với quyền hạn rất lớn. Tổ chức quản lý Bào tộc là Hội đồng Bào tộc bao gồm các tù trưởng, thủ lĩnh quân sự của các Thị tộc, với các nguyên tắc tổ chức quyền lực tương tự như nguyên tắc tổ chức quyền lực của Thị tộc nhưng có sự tập trung cao hơn. Hội đồng Bộ lạc là hình thức tổ chức quản lý của Bộ lạc với nguyên tắc tổ chức tương tự như Thị tộc và Bào tộc nhưng mức độ tập trung quyền lực cao hơn nữa. Như vậy, trong xã hội Cộng sản nguyên thủy đã xuất phát từ xã hội và phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội. Những người đứng đầu Thị tộc, Bào tộc, Bộ lạc không có đặc quyền, đặc lợi nào; họ cùng sống, cùng lao động và hưởng thụ như mọi thành viên khác và chịu sự kiểm tra của công cộng. b. Phân chia giai cấp và sự xuất hiện nhà nước Sự phát triển của lực lượng sản xuất và năng suất lao động xã hội đã làm thay đổi cơ cấu tổ chức xã hội của xã hội Cộng sản nguyên thủy. Sau ba lần phân công lao động xã hội, chế độ tư hữu xuất hiện đã phân chia xã hội thành kẻ giàu, người nghèo, hình thành hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ. Một xã hội mới với sự phân chia giai cấp và sự đấu tranh giai cấp đòi hỏi phải có một tổ chức quyền lực mới, ngõ hầu có thể dập tắt được các cuộc xung đột giai cấp, tổ chức quyền lực đó là nhà nước. Như vậy, nhà nước xuất hiện một cách khách quan, “ một lực lượng nảy sinh từ xã hội, một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho xung đột đó nằm trong vòng trật tự”. 1.1.1.2. Bản chất của nhà nước Bản chất của nhà nước là những yếu tố tất nhiên bên trong của nhà nước, nó quy định sự vận động và phát triển của nhà nước. Bản chất của nhà nước biểu hiện ở hai tính chất cơ bản của nó là tính giai cấp và tính xã hội. Làm rõ bản chất của nhà nước tức là phải xác định: Nhà nước là của ai? Do giai cấp nào tổ chức nên và lãnh đạo? phục vụ lợi ích của giai cấp nào?

doc213 trang | Chia sẻ: haohao89 | Lượt xem: 6542 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Môn pháp luật đại cương chương 1: nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và địa vị pháp lý của cơ quan trong bộ máy nhà nước, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHƯƠNG 1 NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CƠ QUAN TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC 1.1 Bản chất nhà nước, kiểu và hình thức nhà nước 1.1.1. Nguồn gốc, bản chất của Nhà nước 1.1.1.1. Nguồn gốc của Nhà nước a. Tổ chức xã hội và quyền lực trong xã hội Cộng sản nguyên thủy. Xã hội loài người đã trải qua một thời kỳ không có nhà nước và pháp luật, đó là thời kỳ Cộng sản nguyên thủy. Trong thời kỳ này, do trình độ phát triển hết sức thấp kém của lực lượng sản xuất nên con người cùng sống chung, cùng lao động và cùng hưởng thụ những thành quả do lao động chung mang lại. Mọi người đều bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, xã hội không phân biệt kẻ giàu người nghèo, không có sự phân chia giai cấp. Cơ sở kinh tế của xã hội Cộng sản nguyên thủy tạo ra hình thức tổ chức xã hội là Thị tộc - tổ chức cơ sở đầu tiên của xã hội loài người. Thị tộc là một tổ chức lao động sản xuất, một bộ máy kinh tế xã hội. Sự phát triển của xã hội cộng với các yếu tố tác động khác đòi hỏi Thị tộc phải mở rộng quan hệ với các Thị tộc khác, dẫn đến sự xuất hiện các Bào tộc và Bộ lạc do nhiều Bào tộc hợp thành. Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy, quyền lực chưa tách khỏi xã hội mà gắn liền với xã hội, hòa nhập với xã hội. Để tổ chức và quản lý thị tộc, xã hội đã hình thành hình thức Hội đồng thị tộc bao gồm tất cả những người lớn tuổi trong Thị tộc với quyền hạn rất lớn. Tổ chức quản lý Bào tộc là Hội đồng Bào tộc bao gồm các tù trưởng, thủ lĩnh quân sự của các Thị tộc, với các nguyên tắc tổ chức quyền lực tương tự như nguyên tắc tổ chức quyền lực của Thị tộc nhưng có sự tập trung cao hơn. Hội đồng Bộ lạc là hình thức tổ chức quản lý của Bộ lạc với nguyên tắc tổ chức tương tự như Thị tộc và Bào tộc nhưng mức độ tập trung quyền lực cao hơn nữa. Như vậy, trong xã hội Cộng sản nguyên thủy đã xuất phát từ xã hội và phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội. Những người đứng đầu Thị tộc, Bào tộc, Bộ lạc không có đặc quyền, đặc lợi nào; họ cùng sống, cùng lao động và hưởng thụ như mọi thành viên khác và chịu sự kiểm tra của công cộng. b. Phân chia giai cấp và sự xuất hiện nhà nước Sự phát triển của lực lượng sản xuất và năng suất lao động xã hội đã làm thay đổi cơ cấu tổ chức xã hội của xã hội Cộng sản nguyên thủy. Sau ba lần phân công lao động xã hội, chế độ tư hữu xuất hiện đã phân chia xã hội thành kẻ giàu, người nghèo, hình thành hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ. Một xã hội mới với sự phân chia giai cấp và sự đấu tranh giai cấp đòi hỏi phải có một tổ chức quyền lực mới, ngõ hầu có thể dập tắt được các cuộc xung đột giai cấp, tổ chức quyền lực đó là nhà nước. Như vậy, nhà nước xuất hiện một cách khách quan, “ một lực lượng nảy sinh từ xã hội, một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho xung đột đó nằm trong vòng trật tự”. 1.1.1.2. Bản chất của nhà nước Bản chất của nhà nước là những yếu tố tất nhiên bên trong của nhà nước, nó quy định sự vận động và phát triển của nhà nước. Bản chất của nhà nước biểu hiện ở hai tính chất cơ bản của nó là tính giai cấp và tính xã hội. Làm rõ bản chất của nhà nước tức là phải xác định: Nhà nước là của ai? Do giai cấp nào tổ chức nên và lãnh đạo? phục vụ lợi ích của giai cấp nào? * Tính giai cấp của nhà nước Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp và luôn mang bản chất giai cấp sâu sắc. Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được. Nhà nước trước hết là bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác, là bộ máy dùng để duy trì sự thống trị giai cấp. - Nhà nước do giai cấp thống trị tổ chức ra để làm nhiệm vụ quản lí và bảo vệ giai cấp thống trị về mọi mặt. - Trong xã hội có giai cấp sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác thể hiện ở ba loại quyền lực: Quyền lực về kinh tế, quyền lực chính trị và quyền lực về tư tưởng ( Quyền lực được hiểu là khả năng sức mạnh của người nào đó bắt người khác phải phục vụ mình, phục tùng mình). Giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính trị, ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập trung và biến thành ý chí nhà nước, bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. - Để thực hiện sự thống trị của mình giai cấp thống trị phải tổ chức và sử dụng nhà nước, củng cố duy trì quyền lực về chính trị kinh tế và tư tưởng đối với toàn bộ xã hội. Nhà nước sử dụng các cơ quan cưỡng chế như quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù để trấn áp các lực lượng đối địch, bắt các giai cấp, tầng lớp khác phục tùng ý chí của mình. Trong các xã hội bóc lột, nhà nước có thuộc tính chung là bộ máy đặc biệt duy trì sự thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng của thiểu số đối với đa số là nhân dân lao động, thực hiện nền chuyên chính của giai cấp bóc lột. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, là công cụ thực hiện nền chuyên chính và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là bộ máy thống trị của đa số với thiểu số. * Tính xã hội của nhà nước Nhà nước ra đời và tồn tại trong xã hội với cơ cấu bao gồm giai cấp thống trị và các tầng lớp giai cấp khác. Bản thân giai cấp thống trị cũng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với các giai cấp, các tầng lớp dân cư khác. Do vậy nhà nước ngoài tính cách là công cụ duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị, còn phải là một tổ chức quyền lực công, là phương thức đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội. Nhà nước không chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà còn đứng ra giải quyết những vấn đề nảy sinh từ trong đời sống xã hội. Mức độ biểu hiện và thực hiện vai trò xã hội không giống nhau ở những kiểu nhà nước khác nhau. Trong các kiểu nhà nước bóc lột như nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư bản thì tính xã hội tính giai cấp thể hiện rõ nét, do vậy tính xã hội hay mục đích xã hội của nhà nước lại mờ nhạt đi. Trong kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa thì tính xã hội lại được thể hiện rất rõ ràng vì mục đích của nhà nước là phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội. Từ những kết luận trên có thể đi đến định nghĩa sau: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội. * Đặc trưng của nhà nước. Mỗi kiểu nhà nước có bản chất riêng, nhưng tất cả các nhà nước đều có những đặc trưng chung, làm cho nhà nước khác với tổ chức thị tộc trong xã hội Cộng sản nguyên thuỷ. Những đặc trưng cơ bản đó là: - Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt, không còn hoà nhập hoàn toàn với cư dân nữa. Quyền lực công cộng đặc biệt ở đây là quyền lực nhà nước mà chủ thể của nó là giai cấp thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng trong xã hội. Để thực hiện quyền lực này và để quản lý xã hội, nhà nước có một người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý, họ tham gia vào các cơ quan nhà nước và hình thành nên một bộ máy cưỡng chế để duy trì địa vị của giai cấp thống trị, bắt các giai cấp khác phải phục tùng ý chí của giai cấp thống trị. - Nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ thành các đơn vị hành chính, không phụ thuộc vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính... Việc phân chia này quyết định phạm vi tác động của nhà nước trên quy mô rộng lớn nhất và dẫn đến việc hình thành các cơ quan trung ương và địa phương của bộ máy nhà nước. - Nhà nước có chủ quyền quốc gia: Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị pháp lý, nó thể hiện quyền độc lập tự quyết của nhà nước về những chính sách đối nội và đối ngoại không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài. Chủ quyền quốc gia là thuộc tính không thể chia cắt của nhà nước. - Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lí bắt buộc đối với mọi công dân. Với tư cách là người đại diện chính thức của toàn xã hội, nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật. Pháp luật do nhà nước ban hành nên có tính bắt buộc chung, mọi người đều phải tôn trọng pháp luật. - Nhà nước quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới các hình thức bắt buộc, số lượng và thời hạn ấn định trước. Sở dĩ nhà nước phải đặt ra các loại thuế vì bộ máy của nhà nước là một lớp người đặc biệt, tách ra khỏi lao động sản xuất để thực hiện chức năng quản lý, bộ máy đó phải được nuôi dưỡng bằng nguồn tài chính lấy từ khu vực sản xuất trực tiếp. Thiếu thuế nhà nước không thể tồn tại được. Nhưng mặt khác, chỉ có nhà nước mới có độc quyền đặt ra thuế và thu thuế. * Chức năng của nhà nước Chức năng của nhà nước là những phương diện, những hoạt động chủ yếu của nhà nước nhằm để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước. Chức năng của nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất của nhà nước, do cơ sở kinh tế và cơ cấu giai cấp của xã hội quyết định. Căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước, các chức năng được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại: - Chức năng đối nội: là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ đất nước. Ví dụ: Đảm bảo trật tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế độ, bảo vệ chế độ kinh tế... là những chức năng đối nội của nhà nước. - Chức năng đối ngoại: thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các nhà nước và dân tộc khác. Ví dụ: Phòng thủ đất nước, chống xâm lược từ bên ngoài, thiết lập mối bang giao với các quốc gia khác... - Các chức năng đối nội và đối ngoại có quan hệ mật thiết với nhau. Việc xác định và thực hiện các chức năng đối ngoại luôn luôn xuất phát từ tình hình thực hiện các chức năng đối nội. Đồng thời, kết quả của việc thực hiện chức năng đối ngoại sẽ tác động mạnh mẽ tới việc tiến hành các chức năng đối nội. Để thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại, nhà nước sử dụng nhiều hình thức và phương pháp hoạt động khác nhau trong đó có ba hoạt động chính là: Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Tuỳ thuộc vào tình hình của mỗi nước, các phương pháp hoạt động để thực hiện các chức năng của nhà nước cũng rất đa dạng nhưng nhìn chung thì có hai phương pháp chính là thuyết phục và cưỡng chế. Trong các nhà nước bóc lột thì phương pháp cưỡng chế được sử dụng rộng rãi và là phương pháp chủ yếu để thực hiện các chức năng của nhà nước. Còn trong nhà nước xã hội chủ nghĩa thuyết phục là phương pháp cơ bản còn cưỡng chế được sử dụng kết hợp và dựa trên cơ sở của thuyết phục và giáo dục. 1.1.2. Các kiểu và hình thức Nhà nước 1.1.2.1. Khái niệm kiểu nhà nước Lịch sử xã hội loài người cho đến nay đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội trong đó có 4 hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp và tương ứng có 4 kiểu nhà nước: Nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa. Kiểu nhà nước là tổng thể những đặc điểm cơ bản của nhà nước thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội, những điều kiện phát sinh, tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội có giai cấp nhất định. Các kiểu nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản đều có đặc điểm chung là nhà nước bóc lột, chúng xuất hiện và tồn tại trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, là công cụ duy trì và bảo vệ nền thống trị và lợi ích của các giai cấp chủ nô, địa chủ phong kiến và giai cấp tư sản. Còn nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước mới dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, là nhà nước của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Sự thay thế kiểu nhà nước diễn ra thông qua cách mạng xã hội mà kết quả là kiểu nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ và hoàn thiện hơn kiểu nhà nước trước. 1.1.2.2. Các kiểu nhà nước trong lịch sử a) Các kiểu nhà nước bóc lột: nhà nước chủ nô, phong kiến và tư sản. * Nhà nước chủ nô. Nhà nước chủ nô là nhà nước đầu tiên trong lịch sử, ra đời khi chế độ thị tộc tan rã. Cơ sở kinh tế cả nhà nước chủ nô là chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất, sản phẩm lao động và người nô lệ. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ có hai giai cấp chính là nô lệ và chủ nô, ngoài ra còn có các tầng lớp thợ thủ công và những người lao động tự do khác. Chủ nô là một bộ phận thiểu số của xã hội nhưng nắm giữ trong tay toàn bộ tư liệu sản xuất của xã hội, còn nô lệ là lực lượng chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất nhưng chỉ là “công cụ biết nói” trong tay chủ nô, phụ thuộc hoàn toàn vào chủ nô. Tầng lớp thợ thủ công và những người lao động tự do có địa vị khác với người nô lệ nhưng vẫn trong quỹ đạo chi phối của chủ nô về chính trị, kinh tế, tư tưởng. Nhà nước chủ nô xét về bản chất chỉ là công cụ bạo lực để thực hiện nền chuyên chính của giai cấp chủ nô, duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của chủ nô, đàn áp nô lệ và những người lao động khác. Nhà nước chủ nô thực hiện bảo vệ củng cố chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất, sản phẩm lao động và người nô lệ đàn áp sự phản kháng của nô lệ và các tầng lớp khác bằng bạo lực, củng cố hệ tư tưởng tôn giáo và sử dụng nó để thống trị về mặt tư tưởng đối với xã hội. Trong một chừng mực nhất định nhà nước chủ nô cũng tổ chức một số hoạt động kinh tế như quản lý đất đai, tổ chức khai hoang xây dựng và quản lý các công trình thuỷ nông.... Nhà nước chủ nô tiến hành chiến tranh xâm lược, bằng chiến tranh giai cấp chủ nô thực hiện khát vọng làm giàu, cướp bóc của cải, bắt tù binh bổ sung vào đội quân nô lệ và mở rộng phạm vi thống trị. Bộ máy nhà nước chủ nô ở giai đoạn đầu còn đơn giản, mang nhiều dấu ấn của tổ chức thị tộc, chủ nô là người lãnh đạo và là nhà chức trách. Về sau bộ máy phát triển hơn trong đó cảnh sát, quân đội, toà án là những bộ phận chủ yếu cấu thành bộ máy nhà nước. Hình thức chính thể: chủ yếu theo chính thể quân chủ, quân chủ chuyên chế, một số nước có hình thức chính thể cộng hoà. * Kiểu nhà nước phong kiến. Vào giai đoạn cuối của chế độ chiếm hữu nô lệ, quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và nô lệ, cộng với sự bóc lột sức lao động của nô lệ đã trở nên kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và nô lệ ngày càng trở nên gay gắt, dẫn đến nhiều cuộc nổi dậy của nô lệ: lao động của nông dân trên ruộng đất của các chúa đất đưa năng suất lao động cao hơn lao động của nô lệ và dần dần thay thế lao động của nô lệ; chế độ phong kiến dần dần thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ; nhà nước phong kiến thay thế nhà nước chủ nô. Nhìn chung các nhà nước phong kiến ở Châu Âu và một số nhà nước Châu Á ra đời dựa trên sự tan rã của nhà nước chủ nô. Tuy nhiên cũng có quốc gia trong đó nhà nước phong kiến là đầu tiên như Triều Tiên, Mông Cổ, Việt Nam và dân tộc Giéc- manh ở Châu Âu. Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là chế độ sở hữu của giai cấp địa chủ phong kiến đối với tư liệu sản xuất mà chủ yếu là ruộng đất, người nông dân không có hoặc có rất ít ruộng đất nên phải phụ thuộc vào địa chủ phong kiến. Xã hội phong kiến có kết cấu giai cấp phức tạp, địa chủ và nông dân là hai giai cấp chính, ngoài ra trong xã hội còn có tầng lớp thợ thủ công, thương nhân... Giai cấp địa chủ phong kiến được chia ra nhiều đẳng cấp với những đặc quyền khác nhau về sở hữu ruộng đất, vua hay quốc vương là người có thứ bậc cao nhất trong thứ bậc, đẳng cấp của xã hội phong kiến. Các đẳng cấp phong kiến ở Châu Âu như công, hầu, bá, tử, nam... đều gắn liền với những mức độ khác nhau về số lượng điền trang, thái ấp mà họ chiếm hữu. Địa vị người nông dân trong xã hội phong kiến có những ưu thế hơn so với địa vị người nô lệ nhưng chưa có sự khác biệt rõ rệt. Nông dân có kinh tế cá thể, được sở hữu đối với nhà cửa, công cụ lao động, ruộng đất ( thường với số lượng ít). Địa chủ phong kiến không có quyền định đoạt tính mạng người nông dân như trong chế độ chiếm hữu nô lệ. Người nông dân bị bóc lột dưới hình thức nộp tô bằng hiện vật (thóc gạo, vật nuôi...) hoặc bằng tiền, ngoài ra còn bị cưỡng bức lao dịch cho phong kiến. Mức độ phụ thuộc của người nông dân vào địa chủ phong kiến có khác nhau ở các nước và trong giai đoạn cụ thể của nhà nước phong kiến. Về bản chất, nhà nước phong kiến là công cụ trong tay giai cấp địa chủ phong kiến để thực hiện chuyên chính đối với giai cấp nông dân, thợ thủ công và các tầng lớp lao động khác, là phương tiện duy trì địa vị kinh tế, bảo vệ lợi ích và sự thống trị của giai cấp địa chủ phong kiến. Nhà nước phong kiến bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, duy trì các hình thức bóc lột với nông dân và các tầng lớp lao động khác, đàn áp tư tưởng, tuyên truyền hệ tư tưởng phong kiến, nô dịch các tầng lớp lao động bằng hệ thống tổ chức tôn giáo. Nhà nước phong kiến có thực hiện những hoạt động kinh tế nhưng với mức độ hạn chế. Về đối ngoại, nhà nước phong kiến tiến hành chiến tranh xâm lược mở rộng đất đai – lãnh thổ, cướp bóc của cải và phòng thủ chống bành chướng, xâm lược. Bộ máy nhà nước phong kiến mang nặng tính quân sự, tập trung quan liêu gắn liền với chế độ đẳng cấp phong kiến. Các cơ quan mang nặng tính cưỡng chế như: quân đội, nhà tù, toà án. Cấu trúc bộ máy nhà nước phong kiến bao gồm: Vua, Bộ máy giúp việc nhà vua ở trung ương ( triều đình) và hệ thống quan lại giúp nhà vua ở địa phương. Hình thức chính thể phổ biến nhất của nhà nước phong kiến là chính thể quân chủ với những biến dạng khác nhau: chính thể quân chủ trung ương tập quyền, chính thể quân chủ phân quyền cát cứ, chính thể quân chủ đại diện đẳng cấp, chính thể quân chủ chuyên chế cực đoan. * Kiểu nhà nước tư sản Nhà nước tư sản ra đời do hai nguyên nhân chính về kinh tế và xã hội. Quan hệ sản xuất phong kiến chỉ có ý nghĩa tiến bộ trong giai đoạn đầu của chế độ phong kiến còn sang giai đoạn cuối thì nó trở thành lực cản sự phát triển của lực lượng sản xuất, vì nhu cầu giải phóng sức lao động đã trở nên cấp bách, thế nhưng quan hệ sản xuất phong kiến không thể đáp ứng được nhu cầu đó. Mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất phong kiến với tính chất xã hội hoá và trình độ phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất càng trở nên quyết liệt, đòi hỏi phải được giải quyết. Từ mâu thuẫn về kinh tế dẫn tới mâu thuẫn gay gắt về xã hội giữa địa chủ và nông dân cũng cần được giải quyết, do chế độ bằng phát canh thu tô của địa chủ. Ngay trong lòng xã hội phong kiến ở giai đoạn cuối đã hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và giai cấp tư sản muốn tiến hành cách mạng tư sản để xoá bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, thiết lập kiểu quan hệ sản xuất mới – quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Con đường cơ bản và phổ biến nhất để giành quyền lực chính trị là cách mạng xã hội, thay thế hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, thiết lập chính quyền của giai cấp tư sản. Sự ra đời của nhà nước tư sản ở từng nước còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau về lịch sử, xã hội do vậy có những đặc điểm riêng. Nhà nước tư sản là kiểu nhà nước bóc lột cuối cùng trong lịch sử, là công cụ duy trì nền thống trị của giai cấp tư sản đối với tầng lớp nhân dân lao động Cơ sở kinh tế của nhà nước tư sản là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu tư bản về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư. Đối tượng sở hữu của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chủ yếu là công xưởng, hầm mỏ, nhà máy, đồn điền với phương thức bóc lột giá trị thặng dư. Cơ cấu giai cấp trong xã hội tư sản gồm hai giai cấp chính là tư sản và vô sản. Nắm trong tay những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội giai cấp tư sản giữ vai trò thống trị xã hội. Về phương diện pháp lí giai cấp vô sản được tự do nhưng do không có tư liệu sản xuất phải bán sức lao động và trở thành người làm thuê cho giai cấp tư sản chịu sự bóc lột của giai cấp tư sản. Ngoài ra trong xã hội còn có giai cấp nông dân, tầng lớp tiểu tư sản và tri thức... Tôn giáo trong xã hội còn có vai trò quan trọng nhưng không còn là quốc giáo như trong xã hội phong kiến, nhà thờ tách ra khỏi nhà nước, tín ngưỡng là công việc của cá nhân. Nhà nước tư sản đặc biệt chú trọng truyền bá hệ tư tưởng tư sản, đảm bảo vai trò thống trị của hệ tư tưởng này trong xã hội, ngăn cản sự phát triển của các tư tưởng tiến bộ