Bài giảng Môi trường tài chính quốc tế

Để đo lường hoạt động kinh tế của một quốc gia, người ta thường xem xét cán cân thanh toán của nó. Cán cân thanh toán (BOP) là một bản báo cáo về giá trị của tất cả các khoản giao dịch giữa một nước với phần còn lại của thế giới. Có nhiều loại tài khoản trong cán cân thanh toán, tuy nhiên để thuận lợi trong việc phân tích chúng ta chỉ phân loại cán cân thanh toán thành ba loại tài khoản: Tài khoản vãng lai (Current accounts); Tài khoản vốn (Capital account); Tài khoản dự trữ (Reserves).

doc18 trang | Chia sẻ: haohao89 | Lượt xem: 2028 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bài giảng Môi trường tài chính quốc tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHƯƠNG III: MÔI TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ I. CÁN CÂN THANH TOÁN (BOP) Để đo lường hoạt động kinh tế của một quốc gia, người ta thường xem xét cán cân thanh toán của nó. Cán cân thanh toán (BOP) là một bản báo cáo về giá trị của tất cả các khoản giao dịch giữa một nước với phần còn lại của thế giới. Có nhiều loại tài khoản trong cán cân thanh toán, tuy nhiên để thuận lợi trong việc phân tích chúng ta chỉ phân loại cán cân thanh toán thành ba loại tài khoản: Tài khoản vãng lai (Current accounts); Tài khoản vốn (Capital account); Tài khoản dự trữ (Reserves). Cán cân thanh toán được xây dựng theo hình thức kế toán kép. Mỗi hoạt động giao dịch được ghi chép đồng thời ở bên nợ và bên có. Phần ghi chép bên có bao gồm các khoản: (i) nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ - một sự gia tăng về tài sản; hoặc (ii) một sự giảm đi trong các nghĩa vụ về nợ. Phần ghi chép bên nợ bao gồm: (i) xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ - sự suy giảm giá trị tài sản; hoặc (ii) một sự gia tăng các nghĩa vụ về nợ. I.1 Tài khoản vãng lai Tài khoản vãng lai bao gồm các mậu dịch về hàng hóa, dịch vụ và những khoản chuyển giao. * Các khoản mậu dịch về hàng hóa là một bộ phận quan trọng của tài khoản vãng lai bởi vì nó chiếm một tỷ trọng lớn trong tài khoản vãng lai. Trong tài khoản mậu dịch, phần giá trị xuất khẩu được ghi vào bên nợ bởi vì nó là một nguồn thu về ngân quỹ cho quốc gia bán hàng. Ngược lại việc mua hàng hóa từ nước ngoài (nhập khẩu) được ghi chép ở bên có vì nó thể hiện hoạt động sử dụng ngân quỹ. Hoạt động mậu dịch có thể tác động đến cán cân thanh toán theo nhiều cách khác nhau. Giả sử rằng hãng Motor Nissan của Nhật đã bán những máy móc trị giá 600.000$ cho General Motors tại Hoa Kỳ và việc trả tiền được thực hiện thông qua một ngân hàng của General Motors tại Hoa Kỳ. Trong trường hợp này lượng nhập khẩu được ghi vào bên có của tài khoản vãng lai và ghi nợ cho tài khoản vốn về khoản tài khoản vốn ngắn hạn của tư nhân. Kết quả của hành động giao dịch này dẫn đến việc Hoa Kỳ phải chuyển giao tiền tệ cho nhà buôn nước ngoài và như vậy sẽ giảm khả năng thanh toán các nghĩa vụ về nợ khác. * Mậu dịch về dịch vụ là hoạt động dịch vụ bao gồm những khoản chi trả về vận chuyển, bảo hiểm trong hàng hải quốc tế; du lịch, lợi nhuận và nhu nhập từ các khoản đầu tư nước ngoài, những chi phí của nhà nước, quân đội hải ngoại, khoản chi trả về các khoản lệ phí sử dụng tên tuổi, bản quyền; các dịch vụ về xây dựng. Việc mua những dịch vụ này được ghi chép ở bên có, trong khi đó việc bán những dịch vụ này sẽ được ghi ở bên nợ. Ví dụ, trong trường hợp của Nissan và GM, giả sử rằng GM phải chi trả 125.000$ cho Nissan trong việc vận chuyển máy móc tới Hoa Kỳ. Hoạt động này được hạch toán như sau: Nợ tài khoản vốn ngắn hạn; Có tài khoản vận chuyển. Việc hạch toán này được giải thích như sau: GM mua dịch vụ vận chuyển của Nhật Bản (ghi có đối với tài khoản vãng lai) và chi trả cho việc mua dịch vụ này bằng cách gia tăng tài sản ngắn hạn trong nước được giữ bởi người nước ngoài (ghi nợ đối với tài khoản vốn). * Các khoản chuyển giao là những giao dịch không bao hàm người nhận nó phải thực hiện bất kỳ một dịch vụ nào để hoàn trả trở lại. Những khoản chuyển giao này thường bao gồm quà tặng từ các cá nhân hay khoản viện trợ nhân đạo không hoàn lại. I.2 Tài khoản vốn Bao gồm những giao dịch có liên quan đến hoạt động đầu tư. Trong đó bộ phận đầu tư trực tiếp chiếm một tỷ trọng lớn, ngoài ra còn có dạng đầu tư vào một danh mục đầu tư gồm các chứng khoán khác nhau trên thị trường chứng khoán. Bộ phận thứ hai trong tài khoản vốn thể hiện những khoản cho vay - vay ngắn hạn và dài hạn của Nhà nước và tư nhân. I.3 Tài khoản dự trữ Khoản dự trữ của một quốc gia được sử dụng nhằm mục đích làm cho cán cân thanh toán được cân đối. Các khoản dự trữ bao gồm: vàng, ngoại tệ mạnh, hoặc SDR. Nội dung của các tài khoản này được thể hiện thông qua biểu sau (Xem biểu 1) CÁN CÂN THANH TOÁN THEO MẪU CỦA IMF CÓ NỢ I. Tài khoản vãng lai A/ Hàng hóa, dịch vụ và thu nhập 1. Hàng hóa * Nhập khẩu * Xuất khẩu 2. Hàng hải và vận chuyển * Chi trả cho nước ngoài * Thu nhập từ nước ngoài 3. Du lịch * Chi trả cho du lịch * Thu nhập từ du lịch 4. Thu nhập từ đầu tư * Lợi nhuận, lãi chi trả * Lợi nhuận, lãi nhận được 5. Thu nhập từ Nhà nước * Chi của Nhà nước * Thu của Nhà nước 6. Thu nhập từ cá nhân * Chi trả cho người ngoài: lệ phí quản lý, bản quyền, xây dựng * Thu từ nước ngoài: lệ phí quản lý, bản quyền ... B. Khoản chuyển giao 1. Tư nhân * Chi quà tặng * Thu quà tặng 2. Nhà nước * Chi chuyển giao: viện trợ, phí hưu trí ... * Thu từ viện trợ quân sự, kinh tế ... II. Tài khoản vốn 1. Đầu tư trực tiếp * Gia tăng đầu tư vào các doanh nghiệp nước ngoài. * Sự giảm đầu tư của nước ngoài vào các doanh nghiệp trong nước * Sự giảm đầu tư vào các công ty nước ngoài bởi các cá nhân trong nước. * Gia tăng đầu tư vào công ty trong nước bởi người nước ngoài. 2. Đầu tư Portfolio * Gia tăng đầu tư vào các chứng khoán nước ngoài. * Giảm đầu tư vào chứng khoán nội địa bởi người nước ngoài * Sự giảm đầu tư vào chứng khoán nước ngoài. * Sự gia tăng đầu tư vào chứng khoán nội địa bởi người nước ngoài 3. Nợ dài hạn chính thức (Nhà nước) * Cho nước ngoài vay * Mua trái phiếu nước ngoài * Thu nợ nước ngoài * Bán trái phiếu nước ngoài 4. Nợ dài hạn tư nhân * Cho nước ngoài vay * Chi trả nợ nước ngoài * Vay nước ngoài * Thu nợ nước ngoài 5. Nợ ngắn hạn của Nhà nước * Cho vay ngắn hạn cho nước ngoài. * Mua chứng khoán ngắn hạn * Vay nợ nước ngoài. * Bán chứng khoán Nhà nước (ngắn hạn) cho nước ngoài CÓ NỢ 6. Nợ ngắn hạn tư nhân * Gia tăng tài sản ngắn hạn nước ngoài. * Giảm tài sản ngắn hạn được giữ bởi nước ngoài: khoản ký gởi, tiền mặt ... * Giảm tài sản ngắn hạn nước ngoài, gia tăng nghĩa vụ nợi với nước ngoài. * Gia tăng tài sản ngắn hạn nội địa được giữ bởi nước ngoài hoặc sự giảm sút các nghĩa vụ nợ ngắn hạn của nước ngoài. III. Dự trữ * Vàng, SDR, ngoại tệ * Gia tăng việc dự trữ vàng, SDR, ngoại tệ bởi cơ quan tiền tệ; sự giảm sút về nghĩa vụ nợ với IMF * Giảm lượng dự trữ vàng, SDR, ngoại tệ bởi cơ quan tiền tệ; gia tăng các nghĩa vụ nợ với IMF II. HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ Hệ thống tiền tệ quốc tế hình thành từ sự thỏa thuận giữa Ngân hàng Trung ương của các nước và hệ thống này được đặt dưới sự điều hành của quỹ tiền tệ quốc tế. Hệ thống này, về tổng quan, bao gồm các tổ chức tài chính, quy định và luật lệ ... đảm bảo cho thị trường ngoại hối thực hiện được chức năng của nó. Mục tiêu của hệ thống này nhằm đảm bảo việc xác lập một môi trường quốc tế cho sự dịch chuyển tự do của dòng hàng hóa, dịch vụ, và vốn giữa các quốc gia. Hệ thống này cũng cố gắng tạo ra một thị trường ngoại hối ổn định, đảm bảo tính chuyển đổi của các loại tiền tệ. IMF chính là một trong những cơ quan chủ yếu của hệ thống này. II.1 Quỹ tiền tệ quốc tế Vào cuối thời kỳ của chiến tranh thế giới lần II, các nước Đồng minh đã gặp nhau để bàn về việc cải tổ lại hệ thống tiền tệ quốc tế và họ đã thống nhất thiết lập nên một trật tự tiền tệ mới (tại Bretton Woods, New Hamsphere, 1944). Kết quả cuộc họp này đã cho ra đời tổ chức quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), một tổ chức của nhiều chính phủ được hình thành nhằm ủng hộ một sự ổn định về tỷ giá hối đoái và tạo điều kiện cho sự dịch chuyển tự do của dòng tiền tệ quốc tế. Cuộc họp này đã cho ra đời Hiệp định Bretton Woods, trong đó ngoài việc thiết lập IMF, nó cũng khai sinh ra ngân hàng quốc tế cho việc tái xây dựng và phát triển (hay Ngân hàng thế giới) - một ngân hàng đa chính phủ với chức năng hỗ trợ cho các dự án phát triển bằng nguồn vốn vay với lãi suất thấp. Tại cuộc họp này 40 nước tham dự ban đầu đã thống nhất thiết lập chế độ tỷ giá cố định. Theo chế độ này mỗi nước sẽ xác định một mệnh giá cho đồng tiền của mình dựa theo vàng và USD. Các nước tham dự cùng quyết định góp vốn cho IMF và đồng ý chỉ cho phép giá trị đồng tiền của mỗi nước chỉ được phép phá giá trong phạm vi 1%. Trong trường hợp cần thiết mỗi nước có thể phá giá đồng tiền của mình đến 10% nhưng phải được chấp thuận bởi IMF. Mục đích của IMF được xác định thông qua Hiệp định này là: 1. Hỗ trợ cho sự phát triển cân bằng của mậu dịch quốc tế. 2. Hỗ trợ cho sự ổn định của tỷ giá và những thỏa thuận về tỷ giá theo trật tự, ổn định, đồng thời hạn chế tình trạng phá giá đồng tiền để cạnh tranh. 3. Xóa bỏ những hạn chế về ngoại hối. 4. Tạo một nguồn lực tài chính dự trù cho các thành viên để hỗ trợ (cho vay) khi họ cần thiết (nhằm giảm sự thâm thụt trong cán cân thanh toán để ổn định tỷ giá hối đoái). II.2 Hệ thống tỷ giá cố định Được thiết lập bởi Hiệp định Bretton Woods đã hoạt động có hiệu lực khoảng 15 năm. Tuy nhiên vào thập niên 60 (Thế kỷ 20) nhiều vướng mắc và thiếu sót của hệ thống này đã xuất hiện. Một lý do chính là Hoa Kỳ đã và đang cung ứng nguồn USD rất lớn thông qua viện trợ kinh tế, đầu tư trực tiếp của tư nhân, chi tiêu quân sự và các nước Tây Âu đã dùng nguồn USD này để bổ sung cho lượng dự trữ ngoại tệ của mình. Tuy nhiên khi Hoa Kỳ bị thâm thụt rất lớn trong cán cân thanh toán, niềm tin vào giá trị USD bị suy giảm thì những quốc gia Tây Âu lại bắt đầu chuyển đổi USD thành vàng. Điều này đã làm cho hệ thống tỷ giá cố định bị phá vỡ và một sự thay đổi là một yêu cầu cần thiết. Kết quả của quá trình này đã làm cho Hoa Kỳ quyết định ngưng việc bán vàng đổi lấy USD vào năm 1968; và vào năm 1971 Hoa Kỳ đã chấm dứt việc đổi USD lấy vàng. Trong suốt thập niên 70, khi nền kinh tế của nhiều quốc gia trở nên vững mạnh do đó lượng vàng và một số đồng tiền được chấp nhận thanh toán quốc tế không đáp ứng nổi nhu cầu dự trữ của các quốc gia này. Để đáp ứng cho nhu cầu gia tăng dự trữ quốc tế, vào năm 1970, IMF đã tạo ra đơn vị tiền tệ SDR (Special Drawing Right) để thay thế cho USD như là một phương tiện dự trữ, và một số nước đã cột chặt đồng tiền của mình vào SDR. Khi mới hình thành, giá trị của SDR được đảm bảo bởi vàng, nhưng từ năm 1974 giá trị của nó được xác định dựa vào giá thị trường hàng ngày của một số tiền tệ gồm: USD; bảng Anh; Franc Pháp; Mark Đức, và Yen Nhật. Một sự kiện nữa đáng lưu ý trong thập niên 70 đó là vào năm 1974 IMF quyết định thực hiện hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý, hệ thống này cho phép các tỷ giá hối đoái được phép biến động theo cung và cầu nhưng có sự can thiệp của Ngân hàng trung ương khi cần thiết. II.3 Hệ thống tỷ giá thả nổi có điều tiết Lập luận ủng hộ cho hệ thống này đó là tính hiện thực của nó cao hơn hệ thống tỷ giá cố định, ngoài ra nó còn cho phép ngăn chặn một sự thâm thủng cán cân thanh toán thường xuyên, tăng cường tính thanh khoản vì Nhà nước không cần một lượng dự trữ ngoại tệ lớn để can thiệp vào thị trường, và nó còn góp phần vào việc giảm nhu cầu tiến hành hàng rào thuế quan và những rào cản khác. Đối với công ty đa quốc gia, hệ thống này đòi hỏi họ phải cảnh giác hơn với những rủi ro về tỷ giá, buộc họ phải có những dự báo và điều chỉnh khi tỷ giá thay đổi. Hệ thống tỷ giá linh hoạt được áp dụng vào năm 1976 theo quyết định của IMF còn được gọi là hệ thống thả nổi có điều tiết quản lý bởi vì có nhiều nhân tố sẽ quyết định tỷ giá này thay vì chỉ có một nhân tố là cung và cầu về ngoại tệ. Một trong những nhân tố khác đó là sự can thiệp của Nhà nước trên thị trường để điều chỉnh giá trị của những đồng tiền chủ yếu. Hơn thế nữa, nhiều quốc gia nhỏ sẽ treo cột đồng tiền của họ vào một số đồng tiền quan trọng chủ yếu. Ví dụ như các nước Nam Mỹ và vùng Caribbean thường treo tiền tệ của họ vào đồng USD, các nước thuộc địa trước đây của Pháp tại Tây Phi treo tiền tệ của họ vào Franc Pháp, trong khi nhiều quốc gia khác treo tiền tệ của họ vào SDR hoặc vào một giỏ tiền tệ khác. Phần lớn các thành viên chủ yếu của EC, kể cả Pháp và Đức, đã thành lập nên hệ thống tiền tệ Châu Âu (EMS). Hệ thống này sẽ cố định giá trị đồng tiền của một nước với các nước thành viên khác và sẽ thả nổi chúng so với những đồng tiền khác trên thế giới (vào năm 1992 Anh và Italy đã rút khỏi EMS do tình trạng đầu cơ tiền tệ). Hơn thế nữa, một đồng tiền Châu Âu duy nhất (ECU) đã ra đời cùng với sự thành lập Ngân hàng trung ương Châu Âu. Ngày nay những đồng tiền chủ yếu không cột chặt vào bất kỳ loại tiền tệ nào chỉ là USD, Canadian dollar, Franc Thụy Sỹ, và Yen Nhật. Với những thuận lợi của hệ thống thả nổi có quản lý người ta tin rằng nó sẽ còn tồn tại trong một tương lai lâu dài. Theo hệ thống này các nước thành viên được toàn quyền quyết định về tỷ giá của riêng họ và trách nhiệm của IMF chỉ là duy trì sự ổn định để đảm bảo sự đồng bộ trong phát triển kinh tế. Hạn chế nảy sinh từ hệ thống này đó là IMF không thể ban hành biện pháp trừng phạt đối với những nước chủ động điều chỉnh tỷ giá nhằm tạo lợi thế cạnh tranh một cách không công bằng; chỉ có những nước nghèo, đang phát triển mới chịu sự báo động và can thiệp của IMF thông qua những chương trình tài trợ nhằm giảm thiểu sự thâm thụt trong cán cân thanh toán. II.4 Những khó khăn và thách thức trong tương lai Trong thập niên 90 có rất nhiều khó khăn và thách thức đối với hệ thống tiền tệ quốc tế. Một trong số chúng là sự khủng hoảng về nợ quốc tế. * Cuộc khủng hoảng về nợ quốc tế: Vào thập niên 70, nhiều ngân hàng thương mại đã gia tăng rất lớn những khoảng cho vay đối với những nước đang phát triển. Do sự tăng giá dầu hỏa, các nước OPEC đã ký gởi hàng tỷ USD vào các ngân hàng này do đó họ phải tăng cường tìm kiếm khách hàng. Rất nhiều nước đang phát triển đang có nhu cầu vốn đầu tư rất lớn trở thành những khách hàng tốt cho những ngân hàng thương mại này. Tuy nhiên vào thập niên 80, điều không may mắn đã xuất hiện: những khoản nợ này có nguy cơ không trả được và cơn khủng hoảng nợ đã xảy ra. Nhiều lý do để lý giải cho cơn khủng hoảng nợ bao gồm: 1. Sự gia tăng giá dầu hỏa giai đoạn 1979 - 1980. 2. Sự suy thoái kinh tế của những nước đã công nghiệp hóa làm giảm lượng xuất khẩu của những quốc gia đang phát triển. 3. Sự gia tăng lãi suất do những biện pháp chống lạm phát tại những nước đã công nghiệp hóa. Khi nguồn vay từ khu vực tư nhân đã ngưng trệ, rất nhiều nước đang mang nợ chuyển sang cầu cứu sự trợ giúp của IMF. Tuy nhiên, một điều rất rõ ràng là IMF đã không đủ sức để tài trợ cho tất cả các nước này, nhưng tổ chức này cũng đã thực hiện những nỗ lực ban đầu để khắc phục cơn khủng hoảng này. Một trong những giải pháp đó là IMF đã kêu gọi các ngân hàng thương mại tiếp tục cho vay những khoản nợ mới cho các nước đang mang nợ trước khi IMF tài trợ cho các nước này bằng nguồn tài chính của riêng mình. Bằng cách này IMF đã giúp các nước mang nợ có một sự thỏa thuận tái cấu trúc về nợ với các chủ nợ. Tuy nhiên chỉ có khoảng 20% tổng số nợ được tái cấu trúc trở lại theo cách này và vào thập niên 90 rất nhiều nước ở Châu Mỹ La Tinh và Châu Phi đã tiếp tục lâm vào cơn khủng hoảng nợ. Do đó một số đề án giải quyết nợ đã được đề xuất. Một trong những đề án đó là Nhà nước của những nước mang nợ đứng ra bảo lãnh những khoản nợ này, họ sẽ chi trả một phần, và phần thiếu còn lại sẽ được chia xẻ giữa các ngân hàng cho vay và người nộp thuế. Đề án thứ hai là: thực hiện chi trả lãi suất hàng năm và trì hoãn việc trả vốn gốc, hơn thế nữa phần lãi chi trả sẽ được giới hạn theo một tỷ lệ % giá trị xuất khẩu của nước mang nợ. Đề án thứ ba chính là việc chuyển nợ thành những khoản vốn đầu tư tính theo đồng tiền bản xứ vào các doanh nghiệp tư nhân hay Nhà nước tại nước mang nợ. Đề án thứ tư là kêu gọi IMF vào World Bank cho các nước vay tiền để mua lại những khoản nợ này với một mức chiết khấu đáng kể. Trên thực tế đã có nhiều sự phản đối những đề án này. Vào giữa thập niên 80, Jame Baker, sau đó là Bộ trưởng Bộ ngân khố Hoa Kỳ, đã phát họa một kế hoạch mà theo đó 17 chủ nợ hàng đầu chiếm hơn 50% số tiền cho vay, sẽ phối hợp cùng những tổ chức như World Bank và tiếp tục cho những nước mang nợ vay thêm. Đổi lại những nước được vay thêm này phải cam kết thực hiện những chính sách kinh tế mới nhằm đảm bảo khả năng chi trả nợ về sau này. Tuy nhiên rất nhiều ngân hàng không đồng ý với kế hoạch này. Một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến họ từ chối đó là tình hình tài chính của họ không cho phép và họ phải đối phó với nhiều khó khăn tại thị trường của chính nước họ. Ví dụ minh họa tốt nhất cho trường hợp này là tình trạng của ngân hàng Citi Bank (tập đoàn Citicorp). Citicorp từ lâu đã được xem là một ngân hàng hàng đầu của Hoa Kỳ. Tuy nhiên vào đầu thập niên 90, tập đoàn này đang ở một tình trạng khó khăn lớn về tài chính và đang tìm kiếm những nhà đầu tư để cải thiện tình hình vốn của mình. Citicorp đã có một khoản vay 3 tỷ USD chưa thực hiện được trong việc đầu tư vào bất động sản, và một khoản 1 tỷ USD chưa thực hiện cho những công ty Hoa Kỳ đang mắc nợ cao. Hơn thế nữa nó còn một khoản cho vay 10 tỷ cho các nước đang phát triển và 4 tỷ trong đó chưa thực hiện được. Tình trạng này xuất hiện bởi lẽ mục tiêu của công ty này là gia tăng lợi nhuận lên 15% mỗi năm do đó nó phải chấp nhận những khoản cho vay với rủi ro cao. Cùng lúc đó, trong giai đoạn này Hoa Kỳ đang trong tình trạng suy thoái kinh tế và sự phá sản của các doanh nghiệp đang tăng cao. Dựa trên sự đánh giá vị thể tài chính của mình và nhận dạng rõ những bưới đi cần thiết để cải thiện tình hình tài chính, Citicorp rõ ràng không dám chấp nhận việc gia tăng những khoản nợ cho các nước thuộc thế giới thứ 3. Vào thời điểm này nhiều nước đã phát triển cũng đang gặp nhiều khó khăn. Tại Đức, chính phủ của thủ tướng Kohl đang đối đầu với sự gia tăng phí tổn cho việc hợp nhất đất nước cao hơn mức dự kiến, hàng tỷ USD vượt trội so với dự kiến ban đầu đã được dùng để xây dựng và tái phát triển Đông Đức. Tại Nhật Bản nhiều ngân hàng đang gặp khó khăn do lãi suất lên cao và tình trạng phá sản không lường trước của các công ty. Một trong những nguyên nhân gây ra do tình trạng đầu tư vào bất động sản trong thời kỳ cao giá và giờ đây giá cả đang hạ thấp xuống. Do đó khoản nợ do phá sản trong thời kỳ 1989 - 1991 tăng từ 10 tỷ USD lên đến 30 tỷ USD. Điều này làm cho các ngân hàng Nhật bắt đầu tìm kiếm những cơ hội đầu tư bảo thủ hơn (an toàn hơn) tại những nước đã công nghiệp hóa mà Hoa Kỳ là một mục tiêu ưu tiên. Những nước có tiềm lực kinh tế mạnh như USA, Pháp, Anh, Đức trong thời gian trước đây đã sẵn sàng đầu tư vào những nước kém phát triển nhất giờ đây lại đang tập trung sự chú ý vào khu vực Đông Âu (Polan, Hungary, và Czech Slovakia) và Nga. Vào 15/04/1991 Ngân hàng Tái Thiết và phát triển Châu Âu đã ra đời. Mục tiêu của ngân hàng này là ủng hộ việc mở rộng dân chủ, phát triển doanh nghiệp tư nhân, cho vay cho khu vực tư nhân và Nhà nước với một mức độ phạm vi không hạn chế. Một trong những dự án được quan tâm ban đầu của ngân hàng này là một đề án trợ vốn cho những công nhân kỹ thuật cao Hungary bị mất việc thiết lập doanh nghiệp mới; dự án liên doanh với H.J.Heinz để mua lại dây chuyền sản xuất thực phẩm tại Balen; một kế hoạch phối hợp với W.B và ngân hàng đầu tư Châu Âu để làm sạch môi trường vùng biên Baltic và sông Danube. Những ví dụ trên đây đã góp phần giải thích vì sao cuộc khủng hoảng nợ quốc tế vẫn tiếp tục là một vấn nạn trong suốt thập niên 1990. Tuy nhiên, những cố gắng để giải quyết cuộc khủng hoảng này thông qua một giải pháp được gọi là “một trật tự tiền tệ quốc tế mới” cũng được đề xuất. * Một trật tư tiền tệ quốc tế mới: Một trong những lý do khiến nhiều giải pháp nêu trên không thành công bởi vì nó không giải quyết được trọng tâm của vấn đề: Nhu cầu tái chu chuyển tiền tệ để cân bằng giữa nợ và thặng dư. Ví dụ như: nếu hai nước Đức và Nhật, hai quốc gia có lượng thặng dư mậu dịch lớn nhất, chấp nhận giảm sự thặng dư này và gia tăng việc mua hàng hóa nước ngoài thì điều này sẽ giúp thế giới thứ 3 giảm nhẹ gánh nặng về nợ. Do đó một phương pháp tiếp cận mới để giải quyết cuộc khủng hoảng nợ cần phải được hình thành. Hiện tại có hai cách tiếp cận chủ yếu được khuyến cáo như là những giải pháp căn bản, thường xuyên để giải quyết nợ, và cả hai giải pháp này đều đề nghị không nên dùn